Danh nhân thế giới Toán học

Leonhard Euler

Tìm hiểu về Leonhard Euler — toán học trong danh sách danh nhân thế giới. Tiểu sử, cuộc đời, sự nghiệp và những đóng góp nổi bật của Leonhard Euler.

Ngày 18/9/1783, nhà toán học, nhà vật lý học Leonhard Euler - người có một sức mạnh trí tuệ và tinh thần kỳ diệu, đã rời bỏ khoa học để đi về thế giới bên kia. Song những gì ông để lại vẫn luôn được hậu thế nâng niu và trân trọng không chỉ vì giá trị thực tế của nó mà còn bởi giá trị tinh thần to lớn ẩn chứa bên trong.

Ngay từ nhỏ Euler là một cậu bé có tài năng đặc biệt về ngôn ngữ và một trí nhớ phi thường. Song cuộc đời ông đã trải qua nhiều biến động và bất hạnh: hai mắt lần lượt hỏng, nhà cháy thiêu rụi mọi tài sản, người vợ thân yêu qua đời...

Nhưng tất cả những điều đó không hề ảnh hưởng tới sức sáng tạo, đến khả năng làm việc của ông. Càng về già, Euler càng làm việc không biết mệt mỏi. Chỉ tính riêng trong 17 năm cuối đời, Euler đã công bố tới 416 công trình. Tính ra trung bình mỗi năm ông công bố tới 25 công trình, nhiều gấp 3 lần số công trình mỗi năm trước đó ông đã công bố.

Leonhard Euler sinh ngày 15/4/1707 tại Basel, Thụy Sĩ.

Sau khi ông qua đời, các công trình nghiên cứu của ông đã được tập hợp trong bộ sách“Leonhard Euler Opera Omnia”, gồm 85 quyển cỡ lớn với gần 40.000 trang, trong đó đề cập đến hầu hết các lĩnh vực của toán học và nhiều ngành khoa học kỹ thuật khác.

Đóng góp quan trọng cho Toán học

Đối với Euler, làm toán cũng tự nhiên và cần thiết cho đời sống như là hít thở khí trời vậy. Ông đã bị ám ảnh bởi sự biến đổi kỳ diệu của những phép tính cho đến tận khi ông qua đời. Leonhard Euler nghiên cứu hầu hết các lĩnh vực của Toán học thời bấy giờ như: đại số, lý thuyết số, giải tích, hình học… Các công trình về toán học chiếm tới 58% tổng các công trình nghiên cứu của ông.

Một trong những thành công ban đầu của Euler đã là tìm ra lời giải cho bài toán Basel, yêu cầu tìm giá trị chính xác của tổng các bình phương nghịch đảo của các các số nguyên. Trước đó, các nhà toán học tốn rất nhiều công sức mà không tìm ra được kết quả bài toán. Đến năm 1735, khi Euler sử dụng kỹ thuật tính xấp xỉ mới tìm ra kết quả chính xác của bài toán là pi^2/16.