Danh nhân Việt Nam Khoa học gia, nhà giáo VN

Hồ Ðắc Di

Tìm hiểu về Hồ Ðắc Di — khoa học gia, nhà giáo vn trong danh sách danh nhân việt nam. Tiểu sử, cuộc đời, sự nghiệp và những đóng góp nổi bật của Hồ Ðắc Di.

Từ 1902 đến 1945, những Khoa trưởng các trường Ðại học đều là người Pháp. Trường Ðại học lúc bấy giờ do Ðại học Paris điều hành và tiếng Pháp được giảng dạy trong trường. Hai bệnh viện của trường Ðại học được thành lập lúc bấy giờ là bệnh viện Phủ Doãn (giờ là Việt Ðức) và bệnh viện Bạch Mai.

Ông là giáo sự chính thức đầu tiên, sau đó là khoa trưởng đầu tiên của trường Ðại học Y khoa Hà Nội.

Hồ Đắc Di sang Pháp du học (1918-1932). Đầu tiên, ông đến bệnh viện Cochin, học ở bệnh khoa của giáo sư Ferdinand Widal, lúc này đang là niềm tự hào của y học lâm sàng nước Pháp.

Đỗ bác sĩ nội trú, Hồ Đắc Di làm phẫu thuật một thời gian ở bệnh viện Tenon, rồi về nước.

Giáo sư Hồ Đắc Di đã viết mấy chục tiểu luận, diễn văn, bài giảng, lời phát biểu, Trường Đại học Y Hà Nội đã tập trung thành mấy tập để lưu, một số ít bài đã đăng báo

Thành tích nghiên cứu Khoa học và đào tạo

Trong luận án tốt nghiệp bác sĩ Y khoa làm tại Paris, ông là người đầu tiên sáng tạo một phương pháp mổ dạ dày (nối thông dạ dày-tá tràng) để điều trị chứng hẹp môn vị do bệnh loét dạ dày- tá tràng gây ra, thay thế cho phương pháp cắt bỏ dạ dày vẫn dùng trước đó. Đây là cách điều trị bảo tồn, được mang tên Ông, được nhiều sách giáo khoa, nhiều công tình nhắc đến và thừa nhận giá trị trong suốt 30-40 năm.

Các công trình khoa học sau này của GS. Hồ Đắc Di (1937-1945) thường đứng tên chung với đồng nghiệp (như GS. Huard, GS. Meyer-May…), với cộng sự và học trò (Vũ Đình Tụng, Tôn Thất Tùng…) với nội dung giải quyết các bệnh rất đặc trưng của một nước nhiệt đới nghèo nàn và lạc hậu. Viêm tụy có phù cấp tính do Ông phát hiện từ 1937 đã mở đường cho các kết quả nghiên cứu rực rỡ sau này của Tôn Thất Tùng vào những năm sau. Cách điều trị bằng phẫu thuật các biến chứng viêm phúc mạc do thương hàn cũng có đóng góp lớn trong mở đường nghiên cứu thủng túi mật, hoặc nêu một phương pháp mổ mới, trong phẫu thuật sản khoa. Các phân tích thống kê phẫu thuật, cùng với Huard, được đăng ở báo Y học Viễn Đông ấn hàn