Giáp Hải

Giáp Hải và bài thơ “Vịnh Bèo” nổi tiếng
Giáp Hải (1515 - 1585?), sau đổi tên là Giáp Trừng, hiệu Tiết Trai, người làng Dĩnh Kế, huyện Phượng Nhãn (nay thuộc xã Dĩnh Trì, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang), còn gọi là Trạng Kế hay Trạng Ác- do tính ông rất ngay thẳng. Ông đỗ Trạng nguyên năm Đại Chính thứ 9, Mậu Tuất (1538), đời Mạc Thái Tông, làm quan đến Thượng thư bộ Lại kiêm Đông các Đại học sĩ, Nhập thị Kinh diên, tước Kế Khê Bá, Luân Quận Công. Năm 1566, ông còn đi đón Lê Quang Bí đi sứ nhà Minh trở về (theo Đại Việt Sử ký Toàn thư). Sáng tác của ông hiện nay cũng không rõ là có bao nhiêu, nhưng có một cuốn được Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục nhắc tới là Bang giao bị lãm. Giáp Hải mất năm 1585, sắc phong Sách quốc công.
- Huyền thoại
Sau khi Mạc Đăng Dung tiếm ngôi nhà Lê ở nước ta, nhà Minh sai Mao Bá Ôn đem quân sang “hỏi tội”. Mao Bá Ôn dừng quân nơi cửa ải, đưa ra bài thơ này gửi quan quân nhà Mạc với ý ví người An Nam như những thân bèo không đoàn kết. Bài thơ này đã được trạng nguyên Giáp Hải của Đại Việt hoạ lại với lời lẽ cứng rắn.
+) Bản phiên âm Hán-Việt của Mao Bá Ôn:
“Tuỳ điền trục thuỷ mạo ương châm,
Đáo xứ khan lai thực bất thâm.
Không hữu căn miêu không hữu diệp,
Cảm sinh chi tiết cảm sinh tâm?
Đồ tri tụ xứ ninh tri tán,
Đãn thức phù thì ná thức trầm?
Đại để trung thiên phong ác khí,
Tảo quy hồ hải tiện nan tầm.”
+) Dịch nghĩa:
“Dọc theo ruộng nước bám như châm,
Rể bám vào đâu cũng chẳng thêm.
Vờ có căn nguyên, vờ có lẽ,
Dám chi sạch tiết, dám chi tâm?
Tụ rồi đã chắc chi khi tán,
Nổi đó nào hay đến lúc chìm?
Gặp trận trời cho cơn gió lốc,
Quét tan hồ bể khó mà tìm.”
+) Dịch thơ:
Thơ vịnh bèo (Người dịch: Hoà thượng Trí Thủ)
“Cao sâu theo nước mọc im lìm
Nông nỗi xưa nay vốn khó dìm
Ngọn gốc đã trơ không lá lảu
Cỗi cành sao lại cả gan tim?
Coi thường tản mát khi thường tụ
Biết lúc lênh đênh chả biết chìm
Ví gặp tung trời cơn bão táp
Cuốn theo về biển khó đâu tìm!”
+) Khi nhận được bài thơ thì Trạng Giáp Hải đã có bài hoạ như sau:
“Cẩm lân mật mật bất dung châm
Đái diệp liên căn khởi kế thâm
Thường dữ bạch vân tranh thuỷ diện
Khảng giao hồng nhật truỵ ba tâm
Thiên trùng lãng đả thành nan phá
Vạn trận phong xuy vĩnh bất trầm
Đa thiểu ngư long tàng nghiểu lý
Thái Công vô kế hạ câu tầm”
Tạm dịch:
“Sin sít hoa thêu cản mũi khâu
Mấy tầng gốc rể vẫn chen nhau
Ganh cùng mây bạc trên làn sóng
Đâu để vầng hồng lọt đáy sâu
Nước vổ, vổ sao cho phá được
Gió to, to mấy có chìm đâu
Biết bao rồng cá năm trong đó
Cụ Lã đừng hòng thả lưỡi câu!”