Chế độ ruộng đất thời Trần
- Các loại hình sở hữu ruộng đất của nhà nước
+) Ruộng sơn lăng:
Nhà Trần lấy phần ruộng đất gần kinh thành làm ruộng sơn lăng. Các vua nhà Trần khi mất được chôn ở nhiều nơi khác nhau do đó ruộng sơn lăng cũng nằm rải rác ở một số làng chớ không tập trung lại một chỗ. Các làng Thái Đường, Thâm Động (Thái Bình), Tức Mặc (Nam Định), Yên Sinh (Quảng Ninh) đều có ruộng sơn lăng. Một số quý tộc nhà Trần cũng có ruộng sơn lăng, Trần Thủ Độ chẳng hạn. Cũng giống như nhà Lý, phần ruộng sơn lăng của nhà Trần có tổng diện tích khá nhỏ do với diện tích cày cấy nên nó không có ảnh hưởng nhiều về mặt kinh tế.
+) Ruộng tịch điền:
Là loại ruộng riêng của cùng đình. Phần lớn huê lợi thu được trên ruộng tịch điền đều vào kho riêng của nhà vua. Về việc đối tượng nào cày cấy trên ruộng tịch điền không được sử cũ ghi chép rõ ràng. Tổng diện tích ruộng tịch điền thời Trần cũng rất nhỏ hẹp, chỉ mang tính chất nghi lễ chớ không có ảnh hưởng gì quan trọng đến sự phát triển của sản xuất kinh tế nông nghiệp.
+) Ruộng quốc khố:
Giống như nhà Lý, thời Trần ruộng quốc khố cũng do nhà nước trực tiếp quản lý và định ra mức tô thuế. Lực lượng tham gia cày cấy thường là những tù binh những người phạm tội, nô tỳ…sản phẩm thu hoạch sẽ được nộp vào kho của nhà nước.
+) Ruộng đất công làng xã:
Từ giữa thế kỷ XIII đến nửa đầu thế kỷ XV, chính quyền trung ương còn mạnh, nạn mua bán ruộng đất tuy có diễn ra nhưng nhà nước còn đủ khả năng kiểm soát. Trong giai đoạn này, tình trạng sở hữu ruộng đất của làng xã tuy có biến động nhưng nhà nước vẫn kiểm soát được. Cuối thế kỷ XIV, ruộng đất làng xã trở thành món lợi trong tay các quan lại, quý tộc, địa chủ. Vấn đề mua bánm chiếm dụng đất công làng xã diễn ra ở khắp các địa phương và vượt ra ngoài khả năng kiểm soát của chính quyền trung ương. Ruộng đất tư hữu tăng lên nhanh chóng, quá trình phong kiến hoá đất đai và sự hình thành giai cấp địa chủ bình dân diễn ra với tốc độ rất nhanh. Tầng lớp địa chủ mới này có chỗ dựa là địa chủ, quan lại địa phương (Đây mới là chủ nhân thực sự).
- Ruộng sở hữu tư nhân
+) Thái ấp - đất phong của quý tộc Trần:
Đây là phần ruộng đất mà vua Trần ban cấp cho các quý tộc Trần. Ban cấp thái ấp là chính sách kinh tế quan trọng nhằm tạo ra cơ sở xã hội cho chính quyền thời Trần. Nguồn đất ban đầu của thái ấp có thể thuộc quyền sở hữu nhà nước, nhưng khi ban cấp thành thái ấp thì tháo ấp thuộc quyền chiếm hữu tư nhân các quý tộc. Đất đai của các thái ấp thực ra không nhiều và lại nằm rải rác cách xa nhau nên không đủ khả năng tạo nên một mối liên kết kinh tế-xã hội riêng biệt đối lập với triều đình, mà ngược lại sự tồn tại của nó phải gắn chặt với triều đình.
+) Điền trang:
Nhà Trần coi trọng việc khai khẩn đất hoang để mở rộng diện tích canh tác, thành lập các điền trang. Thường thì những quý tộc nhà Trần đem theo nhiều tù binh, tội phạm, nô tỳ…tiến hành khai khẩn đất hoang và thành lập những điền trang dưới sự quản lý của mình. Điền trang được thành lập là điểm dân cư tiêu biểu cho hình thái kinh tế-xã hội thời Trần. Trong những điểm dân cư trên, ruộng đất được chia ra thành nhiều phần nhỏ lấy hộ gia đình làm đơn vị sản xuất. Tuy thuộc vào loại hình sở hữu lớn những thật ra diện tích điền trang cũng không nhiều lắm. Từ năm 1226 trở đi, bản thân tầng lớp quý tộc đã dựa vào hai tổ chức kinh tế cơ bản: Thái ấp và điền trang mà phát triển vững vàng đến giữa thế kỷ XIV.
+) Ruộng đất tư hữu của địa chủ:
Năm 1254, triều đình ra lệnh “bán ruộng công, mỗi diện là năm quan tiền cho nhân dân làm của tư”. Việc mua bán ruộng đất công khai, hợp pháp được nhà nước ủng hộ làm cho sở hữu địa chủ phát triển mạnh thêm. Nhưng chính sự mua bán ruộng đất cũng làm cho tính chất sở hữu trong thành phần kinh tế này luôn luôn dao động, không tập trung, không ổn định như thái ấp, điền trang. Sở hữu của địa chủ tuy lớn nhưng lại phân tán. Đồng thời, giữa chủ sở hữu địa chủ và sở hữu tiểu nông không có hàng rào cách biệt, tiền tệ và các điều kiện khác như gặp khó khăn, sa sút có thể tạo ra sự chuyển hoá hai hình thái sở hữu và hai thành phần xã hội này.
+) Tiểu nông tư hữu:
Kinh tế hàng hoá-tiền tệ cũng là một trong những nguyên nhân tạo ra sở hữu ruộng đất tiểu nông. Lệnh bán ruộng đất công của nhà Trần cũng tạo điều kiện cho gia đình tiểu nông mua thêm ruộng đất, quyền lực tiền tệ đã làm chuyển đổi quyền sở hữu ruộng đất. Nhưng ruộng đất của họ không ổn định, gặp năm mất mùa đói kém họ lại phải bán ruộng lại cho địa chủ, không ít người rơi vào cảnh làm nô tỳ.
- Ruộng thuộc sở hữu của nhà chùa:
Thời Trần, Phật giáo rất thịnh hành và phát triển. Nhà Trần bỏ nhiều tiền của cho xây dựng, trùng tu nhiều chùa chiền, ban cấp ruộng đất, cho in ấn kinh Phật…Ruộng đất nhà chùa ngày càng nhiều hơn và nguồn gốc đất cũng phức tạp hơn. Đến cuối thới Trần, tình hình chính trị rối loạn, vương pháp không còn được duy trì như trước, Phập giáo phải nhường bước cho Nho giáo, nhưng điều này không ảnh hưởng nhiều đến số ruộng đất do nhà chùa trực tiếp quản lý.
- Phân tích và đánh giá ảnh hưởng của ruộng đất đối với quốc gia Đại Việt dưới thời Trần.
Trong lịch sử tồn tại và phát triển của chế độ phong kiến Việt Nam, có thể nói vấn đề ruộng đất là một vấn đề cực kỳ quan trong đối với việc tồn tại và phát triển bền vững của vương triều phong kiến. Quốc gia phong kiến nào giải quyết được vấn đề ruộng đất một cách hợp lý nhất sẽ là một quốc gia hùng mạnh về kinh tế. Điều này kéo theo sự lớn mạnh của các mặt khác trong đời sống xã hội như chính trị, quân sự, văn hoá. Các vương triều phong kiến nhà Trần hiểu rõ vấn đề quan trọng này. Nên sau khi giành được ngai vàng của nhà Lý, ổn định tình hình trong nước cũng như dẹp xong các thế lực ngoại xâm, vua Trần tuyên bố một cách dứt khoát: Tất cả đất đai là của nhà vua, kẻ nào dám đem một tất đất dâng cho giặc bị khép vào tội đại nghịch và bị xử trảm ngay lập tức. Điều này đã được nhà Trần thực hiện khi một số tù trưởng miền núi làm phản, nhà Trần huy động lực lượng vào chinh phạt và giết tất cả. Đây là những biện pháp mạnh tay nhưng rất cần thiết trong việc củng cố chính quyền và phát triển kinh tế. Sau những việc trừng phạt như thấy, trong đất nước rất hiếm khi xảy ra những việc liên quan đến lĩnh vực đất đai.
Đối với các nước phong kiến, việc mở rộng lãnh thổ luôn là một nhu cầu cần thiết để xây dựng một quốc gia hùng mạnh. Nước Đại Việt đã bao phen đứng trước cảnh bị xâm lăng và cũng đã không ít lần đánh bại âm mưu mở rộng lãnh thổ của các thế lực phong kiến bên ngoài. Cũng giống như những nhà nước phong kiến khác, nhà Trần luôn có ý thức mở rộng đất đai về phía Nam và thực hiện ham muốn này một cách liên tục và bằng nhiều cách bằng nhiều cách: trực tiếp đưa quân vào xâm chiếm mở rộng đất đai; mở rộng lãnh thổ về phía Nam thông qua con đường hôn nhân (gả Huyền Trân công chúa cho vua Chiêm Thành là Chế Mân để đổi lấy hai châu là Châu Ô và Châu Lý); đưa tù binh, tội phạm đi khai khẩn đất hoang, thành lập đồn điền…Những chính sách nhằm mở rộng đất đai được nhà Trần thực hiện một cách mạnh mẽ và mang lại hiệu quả cao. Lãnh thổ Đại Việt mở rộng không ngừng, đất đai tăng lên đồng nghĩa với việc diện tích cày cấy tăng lên, lương thực đảm bảo cho việc tiêu dùng và dự trữ.
Nhằm tăng thêm diện tích canh tác, nhà Trần đặt ra các chức chánh, phó đồn điền sứ chuyên lo việc khai hoang lập đồn điền. Những chính sách tích cực của nhà Trần nhằm đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp đã có tác dụng đáng kể, nhiều năm được mùa, cuộc sống của nhân dân ổn định.
Nhà Trần xác định đất đai toàn lãnh thổ là của dòng họ Trần. Do đó, nhà Trần sau mỗi lần đánh thắng giặc ngoại xâm, có tổ chức bình công trạng tướng lĩnh, đem ruộng đất ban thưởng cho họ. Những người trong hoàng tộc có công lớn được vua phong cho tước, ban thưởng ruộng đất để làm thái ấp, điền trang có diện tích khác nhau tuỳ theo công trạng. Thái ấp, điền trang là một loại hình ruộng đất đặc biệt có từ thời Trần và nằm rải rác trên địa bàn nhiều địa phương. Diện tích có thể vài trăm đến vài ngàn mẫu. Trong điền trang có nhà cho vương hầu, quý tộc ở, nhà cửa cho gia đinh ở, kho lương thực, vũ khí, nơi nuôi voi, ngựa. Mỗi vương hầu còn được quyền quản lý một vùng đất đai rộng lớn có thể vài trăm đến vài nghìn hộ, thu tô thuế cho nhà nước. Điền trang, thái ấp là loại hình thuộc sở hữu nhà Trần, lúc đầu được nhà vua ban thưởng, sau đó con cháu được thụ hưởng. Tuy tổng diện tích điền trang, thái ấp không lớn so với diện tích gieo cấy cả nước thời bấy giờ nhưng đây là một loại hình sở hữu ruộng đất đặc biệt, tác động nhiều đến đời sống cư dân.
Loại hình sở hữu ruộng đất này góp phần khẳng định quyền sở hữu đất đai của dòng tộc nhà Trần, các điền trang, thái ấp này như là những đồn trú thay mặt cho triều đình để dập tắt mọi sự nổi dậy của cư dân trong vùng.
Các ông vua đầu triều Trần là các ông vua tài năng, có nhiều đóng góp đối với lịch sử dân tộc trên nhiều phương diện, ổn định và phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, mở rộng lãnh thổ, biết đoàn kết toàn dân để đánh đuổi giặc ngoại xâm. Nhà vua thường huy động nông dân làng xã đắp đê trị thuỷ ở sông Hồng, đàu sông dẫn nước, nhiều lần xuống chiếu kêu gọi nông dân phiêu tán trở về quê cũ làm ăn, miễn thuế cho nông dân. Thời nhà Trần, nhà nước bắt đầu thực hiện chính sách đồn điền. Như vậy, xuất phát từ nhu cầu mở rộng diện tích đất canh tác, nhà Trần đã thành lập các sở đồn điền bên cạnh việc khuyến khích các vương hầu khai hoang, thành lập các điền trang.
Trong khoảng 100 năm đầu triều Trần, đất nước thực sự vững chắc về tất cả các lĩnh vực.
Từ giữa đời Trần trở đi, quý tộc và địa chủ quan lại đua nhau tìm mọi cách bao chiếm ruộng đất công làm ruộng đất tư. Tình trạng này ngày càng trở nên phổ biến và điều đặc biệt là nhà nước cũng đem ruộng đất để bán. Vấn đề này đã đưa đến một hậu quả vô cùng nghiêm trọng là từ giữa thế kỷ XIV trở đi, quý tộc địa chủ chiếm dụng hàng ngàn mẫu đất ngày càng phổ biến ở các địa phương. Để có người cày cấy trên những mảnh đất đất này, quý tộc và địa chủ đã sử dụng gia nô. Ngoài ra, họ còn buộc nông dân làng xã phải đóng góp nghĩa vụ cho mình. Bằng chứng là khi Hồ Quý Ly thâu tóm quyền lực và tiến hành cải cách thì có hai chính sách lớn được thực thi là hạn điền và hạn nô. Mục đích của hai chính sách này là giảm bớt tình trạng bao chiếm ruộng đất của quý tộc Trần và tình trạng sử dụng quá nhiều gia nô để phục vụ cho tầng lớp này. Mặc dù Hồ Quý Ly đã thực hiện chính sách này một cách cương quyết nhưng đã vấp phải một sự chống trả quyết liệt từ phía quý tộc nhà Trần và đồng minh là hệ thống quan lại ở địa phương. Kết quả là chính sách hạn điền và hạn nô của Hồ Quý Ly không đạt được mục đích đề ra. Nông dân mất ruộng đất và liên tiếp nỗi dậy chống lại triều đình để rồi bị tàn sát không thương tiếc.
Từ giữa thế kỷ XIV, vua Trần không còn đủ khả năng để quản lý và điều hành đất nước. Hạn hán, mất mùa, đói kém diễn ra liên miên, nông dân phiêu tán khắp nơi. Đây cũng chính là cơ hội cho bọn quý tộc, địa chủ, quan lại chiếm đoạt ruộng đất biến thành ruộng đất tư.
Hàng loạt những biến động về mặt ruộng đất làm cho nền kinh tế cuối thời Trần sa sút nhanh chóng. Các quý tộc Trần bao chiếm ruộng đất ngày càng nhiều, bóc lột nhân dân ngày càng thậm tệ. Bên cạnh đó, cuộc sống xa hoa của nhà vua và đại bộ phận quý tộc Trần đã làm cho nền kinh tế nước nhà trở nên kiệt huệ. Khởi nghĩa nông dân nổ ra liên miên để đòi những quyền lợi về mặt ruộng đất làm cho triều đình ngày càng suy yếu hơn. Khi mà vấn đề ruộng đất không được giải quyết một cách hợp lý, kèm theo một số nguyên nhân chủ quan và khách quan khác, nhà Trần đã phải sụp đổ và một triều đại mới ra đời thay thế.
(Nguồn: Đại cương Lịch sử Việt Nam, NXB Giáo dục và Chế độ ruộng đất Việt Nam từ thế kỉ 11 – thế kỉ 15, NXB Khoa học xã hội)