Sự kiện Thời kì Pháp thuộc

9-3-1945 :Nhật đảo chính lật đổ Pháp trên toàn Đông Dương.

9-3-1945 :Nhật đảo chính lật đổ Pháp trên toàn Đông Dương.

16 giờ ngày 9-3, đại diện Nhật tới Phủ Toàn quyền của Pháp ở Sài Gòn thảo luận và chuẩn bị văn kiện về việc Pháp cung cấp gạo cho Nhật trong năm 1945. 18 giờ, Đại sứ Matsumôtô đến ký hiệp ước và đến 19 giờ trao cho Toàn quyền Đông Dương Đờcu một tối hậu thư với nội dung buộc Pháp phải hợp tác chặt chẽ với Nhật trong việc phòng thủ Đông Dương trước nguy cơ quân đội Anh, Mỹ đổ bộ, do đó Nhật buộc Pháp phải đặt toàn bộ lực lượng vũ trang, các cơ sở hậu cần dưới quyền chỉ huy của Nhật và tất cả các quan chức Pháp phải phục tùng sự chỉ huy của Nhật.

16 giờ ngày 9-3, đại diện Nhật tới Phủ Toàn quyền của Pháp ở Sài Gòn thảo luận và chuẩn bị văn kiện về việc Pháp cung cấp gạo cho Nhật trong năm 1945. 18 giờ, Đại sứ Matsumôtô đến ký hiệp ước và đến 19 giờ trao cho Toàn quyền Đông Dương Đờcu một tối hậu thư với nội dung buộc Pháp phải hợp tác chặt chẽ với Nhật trong việc phòng thủ Đông Dương trước nguy cơ quân đội Anh, Mỹ đổ bộ, do đó Nhật buộc Pháp phải đặt toàn bộ lực lượng vũ trang, các cơ sở hậu cần dưới quyền chỉ huy của Nhật và tất cả các quan chức Pháp phải phục tùng sự chỉ huy của Nhật. Tối hậu thư buộc Toàn quyền Đông Dương phải trả lời trước 21 giờ. Phía Pháp xin hoaõn thời gian trả lời lấy lý do là phải hỏi ý kiến Bộ tư lệnh quân Pháp đóng ở Hà Nội. Phía Nhật coi đó là hành động bác bỏ tối hậu thư và 21 giờ 20, Nhật hạ lệnh tấn công Pháp. Hầu như không gặp phải một sự kháng cự đáng kể nào, quân Nhật nhanh chóng chiếm được Phủ Toàn quyền, giam giữ Toàn quyền Đông Dương và hầu hết các quan chức cao cấp của thực dân Pháp.

Bằng một hành động thống nhất trên toàn Đông Dương, trong đêm 9-3, quân Nhật đồng loạt nổ súng và căn bản nhanh chóng đè bẹp sự kháng cự của đối phương. Đến chiều ngày 10-3 thì quân Pháp đầu hàng, phát xít Nhật làm chủ các vùng đô thị lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Huế, Sài Gòn và nhiều tỉnh lỵ… Những đơn vị quân Pháp còn cố thủ ở Cà Mau, Biển Hồ (Campuchia), một số vùng ở Bắc Đông Dương, cũng lần lượt bị thất thủ, chỉ còn một số tàn quân chạy qua biên giới Việt Trung.

Với sự kiện này, lực lượng quân sự Pháp hoaøn toàn tan rã, bộ máy thống trị của thực dân Pháp đầu hàng, bị cầm tù hoặc đang tâm làm tay sai cho phát xít Nhật. Trên thực tế toàn bộ Đông Dương đã trở thành thuộc địa của phát xít Nhật.


11-3-1945: Khởi nghĩa Ba Tơ

Ba Tơ là một châu miền núi thuộc tỉnh Quảng Ngãi (nay là tỉnh Nghĩa Bình). Tại đây, thực dân Pháp xây dựng một đồn sơn phòng do một tên sĩ quan Pháp chỉ huy và một "căng" giam tù chính trị. Các đồng chí bị an trí ở "căng" này đã thành lập một chi bộ Đảng.

Quảng Ngãi lúc đó là tỉnh có phong trào cách mạng cao nhất ở Trung Bộ. Trước cuộc đảo chính Nhật - Pháp (9-3-1945), cơ sở quần chúng đã chuẩn bị đón thời cơ khởi nghĩa.

Trưa ngày 10 tháng 3 năm 1945, Ba Tơ nhận được tin Nhật làm đảo chính lật đổ Pháp. Ngay tối hôm đó, chi bộ quyết định lãnh đạo khởi nghĩa. Hội nghị cử ra một ủy ban khởi nghĩa, định chương trình và kế hoạch hành động.

Chiều 11 tháng 3, hai cuộc mít tinh lớn do ta tổ chức tại sân vận động Ba Tơ rồi biến thành cuộc biểu tình tuần hành thị uy kéo đến đồn Ba Tơ. Bọn chỉ huy Pháp và một số tên bỏ đồn chạy trốn, chỉ còn lại tên cai đồn và đám lính tập. Sau khi quân khởi nghĩa bao vây, lính địch đầu hàng, ta thu 17 súng, 15 thùng đạn và nhiều quân trang, quân dụng.

Ngày 12 tháng 3, Ban chỉ huy cuộc khởi nghĩa tổ chức một cuộc mít tinh, thành lập chính quyền cách mạng của nhân dân.

Ngày 14 tháng 3, đội du kích Ba Tơ chính thức được thành lập gồm 28 chiến sĩ với 24 khẩu súng. Đây là đội võ trang thoát ly đầu tiên do Đảng ta tổ chức và lãnh đạo ở Trung Trung Bộ.

Tháng 4 năm 1945, đội du lích hoạt động ở một vùng đồng bào Thượng trên dãy Trường Sơn hiểm trở. Quân Nhật tìm cách truy lùng hòng tiêu diệt đội du kích đang còn trong thời kỳ trứng nước.

Đội đã phải chịu đựng muôn vàn khó khăn gian khổ. Từ cán bộ đến chiến sĩ, ai nấy đều giữ trọn lời thề trong ngày thành lập quyết "hy sinh vì Tổ quốc". Trong hoàn cảnh gay go thiếu thốn, đội du kích Ba Tơ đoàn kết keo sơn, gắn bó quân dân. Nằm trong cái nôi vững chắc của đồng bào Thượng, đội du kích mới lọt lòng đã bảo toàn được lực lượng trước thế lực hung hãn của kẻ thù.

Đầu tháng 5 năm 1945, Tỉnh ủy Quảng Ngãi cử đồng chí Nguyễn Chánh làm chính trị viên cùng với các đồng chí Phạm Kiệt và Nguyễn Đôn - những người trực tiếp lãnh đạo Ba Tơ khởi nghĩa - chỉ huy đội du kích. Chi bộ Đảng cũng được thành lập, do đồng chí Nguyễn Chánh làm bí thư.

Lúc này phong trào toàn tỉnh đã lên cao, tổ chức cứu quốc của toàn tỉnh đã có tới 11 vạn người, số tự vệ tới 2000 người, Tỉnh ủy quyết định đưa đội du kích về châu hoạt động làm nòng cốt cho việc xây dựng 2 chiến khu ở trong châu: Chiến khu Bắc ở vùng Vĩnh Tuy (Sơn Tịnh) và Chiến khu Nam ở vùng Núi Lớn (Mộ Đức).

Về Trung châu, các chiến sĩ du kích Ba Tơ tuyên truyền, vận động, tổ chức quần chúng, huấn luyện cho các chiến sĩ tự vệ cứu quốc, du kích địa phương.

Đội du kích Ba Tơ trở thành trung tâm của cao trào chống Nhật cứu nước ở miền Trung Trung bộ và là hạt nhân của các lực lượng vũ trang liên khu V sau này.

Cuộc khởi nghĩa Ba Tơ là một dẫn chứng hùng hồn của tinh thần chủ động, linh hoạt, sáng tạo của tổ chức cơ sở Đảng và tinh thần cách mạng triệt để của nhân dân ta, đã đi vào lịch sử đấu tranh anh dũng của dân tộc ta

12-3-1945 :Hội nghị Ban thường vụ mở rộng của Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương và chỉ thị “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”.

Nhận thấy trước mâu thuẫn Nhật – Pháp tất yếu sẽ dẫn đến hành động quyết liệt hất cẳng nhau và căn cứ vào thái độ chuẩn bị đảo chính của phát xít Nhật, tối ngày 9-3-1945, Ban Thường vụ mở rộng của Trung ương Đảng được triệu tập khẩn cấp họp tại Đình Bảng (Từ Sơn, Bắc Ninh) dưới sự chủ tọa của Tổng Bí thư Trường Chinh.

Nhận thấy trước mâu thuẫn Nhật – Pháp tất yếu sẽ dẫn đến hành động quyết liệt hất cẳng nhau và căn cứ vào thái độ chuẩn bị đảo chính của phát xít Nhật, tối ngày 9-3-1945, Ban Thường vụ mở rộng của Trung ương Đảng được triệu tập khẩn cấp họp tại Đình Bảng (Từ Sơn, Bắc Ninh) dưới sự chủ tọa của Tổng Bí thư Trường Chinh. Cuộc họp bắt đầu đúng lúc Nhật nổ súng đánh Pháp ở Hà Nội và trên toàn Đông Dương. Hội nghị phân tích những nguyên nhân tất yếu dẫn đến sự kiện này và tiên đoán trước khả năng thắng lợi của Nhật sẽ đè bẹp sự kháng cự của Pháp. Hội nghị đã theo giõi chặc chẽ những diễn biến của tình hình và nhận định rằng sự kiện Nhật đảo chính Pháp đã đặt Đông Dương vào một cuộc khủng hoaûng chính trị sâu sắc, tạo những điều kiện làm chín mùi nhanh chóng thời cơ cách mạng ở Đông Dương, đặt Đông Dương vào thời kỳ “Tiền khởi nghĩa” và nhiệm vụ của Đảng lúc này là phát động cao trào kháng Nhật cứu nước, lãnh đạo toàn dân gấp rút chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền khi cơ hội đến. Hội nghị xác định: “Sau cuộc đảo chính này, đế quốc phát xít Nhật là kẻ thù chính – kẻ thù cụ thể, trước mắt duy nhất của nhân dân Đông Dương”, khẩu hiệu hành động lúc này là “Đánh đuổi phát xít Nhật” và đề ra mục tiêu “Thành lập chính quyền cách mạng của nhân dân”. Hội nghị cũng đề ra nhiều vấn đề cụ thể, các hình thức đấu tranh nhằm phát động một cao trào kháng Nhật cứu nước mạnh mẽ làm tiền đề cho cuộc Tổng khởi nghĩa và khẳng định tinh thần dựa vào sức mình là chính. Toàn bộ những nội dung cơ bản của Hội nghị đã được phản ánh trong văn kiện lịch sử Chỉ thị “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”, đề ngày 12-3-1945.


15-4-1945 :Hội nghị Quân sự cách mạng Bắc Kỳ được triệu tập.

Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương triệu tập, tiến hành từ 15-4 đến 20-4 tại Hiệp Hòa (Bắc Giang), do Trường Chinh chủ trì nhằm giải quyết các vấn đề quân sự đã được Hội nghị tháng 3-1945 của Thường vụ Trung ương nêu ra.

Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương triệu tập, tiến hành từ 15-4 đến 20-4 tại Hiệp Hòa (Bắc Giang), do Trường Chinh chủ trì nhằm giải quyết các vấn đề quân sự đã được Hội nghị tháng 3-1945 của Thường vụ Trung ương nêu ra.

Sau khi phân tích tình hình thế giới và cao trào kháng Nhật của nhân dân ta, Nghị quyết của Hội nghị vạch rõ: “Tình thế đã đặt nhiệm vụ quân sự lên trên tất cả các nhiệm vụ quan trọng và cần kíp trong lúc này. Chúng ta phải tích cực phát triển chiến tranh du kích, gây dựng căn cứ địa kháng Nhật để chuẩn bị cuộc tổng khởi nghĩa cho kịp thời cơ”. Hội nghị quyết định phát triển lực lượng vũ trang, thống nhất Cứu quốc quân và Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, thành Việt Nam giải phóng quân. Để xây dựng bàn đạp cho cuộc tổng khởi nghĩa, Hội nghị đã quyết định xây dựng trong nước 7 chiến khu là: Lê Lợi, Hoaøng Hoa Thám, Quang Trung, Trần hưng Đạo ở Bắc Kỳ; Phan Đình Phùng, Trưng Trắc ở Trung Kỳ; Nguyễn Tri Phương ở Nam Kỳ và có nhiệm vụ “phải đánh thông liên lạc giữa các chiến khu của ba kỳ”. Hội nghị cũng cử ra một Ủy ban Quân sự gồm Võ Nguyên Giáp, Văn Tiến Dũng, Lê Thanh Nghị, Trần Đăng Ninh… để chỉ huy các chiến khu ở miền Bắc Đông Dương và giúp đỡ cho toàn quốc về mặt quân sự.


4-6-1945 :Khu giải phóng Việt Bắc được thành lập trở thành căn cứ địa chính của cách mạng.

Thực hiện chỉ thị của lãnh tụ Hồ Chí Minh, ngày 4-6-1945, Tổng bộ Việt Minh triệu tập Hội nghị cán bộ và tuyên bố chính thức thành lập Khu Giải phóng gồm 2 căn cứ lớn nằm trên địa bàn của 6 tỉnh: Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Hà Giang, Tuyên Quang, Thái Nguyên và một số vùng thuộc ngoại tỉnh Bắc Giang, Vĩnh Yên, Phú Thọ, Yên Bái… Trong Khu Giải phóng, các Ủy ban nhân dân do dân cử được hình thành, tổ chức thực hiện 10 chính sách lớn của Việt Minh.

Thực hiện chỉ thị của lãnh tụ Hồ Chí Minh, ngày 4-6-1945, Tổng bộ Việt Minh triệu tập Hội nghị cán bộ và tuyên bố chính thức thành lập Khu Giải phóng gồm 2 căn cứ lớn nằm trên địa bàn của 6 tỉnh: Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Hà Giang, Tuyên Quang, Thái Nguyên và một số vùng thuộc ngoại tỉnh Bắc Giang, Vĩnh Yên, Phú Thọ, Yên Bái…

Trong Khu Giải phóng, các Ủy ban nhân dân do dân cử được hình thành, tổ chức thực hiện 10 chính sách lớn của Việt Minh. Khu Giải phóng với 1 triệu người gồm nhiều dân tộc khác nhau thực sự là “hình ảnh nước Việt Nam mới”, cùng với hệ thống các chiến khu trong cả nước tạo thành hậu phương và bàn đạp cho thế trận Tổng khởi nghĩa giành chính quyền tháng 8-1945.


12-8-1945 :Ủy ban Chỉ huy lâm thời Khu Giải phóng ra mệnh lệnh khởi nghĩa.

Bản mệnh lệnh gồm 10 điểm quy quy định phương án tác chiến cho lực lượng vũ trang như tấn công địch ở các đô thị, chính sách đối với quân ngụy, tù binh và hàng binh Nhật, những người thuộc phái Đờ Gôn, vấn đề vũ khí, thông tin liên lạc, phối hợp với các lực lượng nhân dân và cuối cùng nhấn mạnh: “Lúc này quân sự hành động, kỷ luật phải nghiêm”.

Bản mệnh lệnh gồm 10 điểm quy quy định phương án tác chiến cho lực lượng vũ trang như tấn công địch ở các đô thị, chính sách đối với quân ngụy, tù binh và hàng binh Nhật, những người thuộc phái Đờ Gôn, vấn đề vũ khí, thông tin liên lạc, phối hợp với các lực lượng nhân dân và cuối cùng nhấn mạnh: “Lúc này quân sự hành động, kỷ luật phải nghiêm”.


13-8-1945 :Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc ra “Quân lệnh số 1” phát lệnh khởi nghĩa.

Ngay sau khi được tin Nhật đầu hàng, Trung ương Đảng và Tổng bộ Việt Minh đã thành lập Ủy ban Khởi nghĩa toàn quốc gồm 5 người do Tổng bí thư Trường Chinh trực tiếp phụ trách. 23 giờ ngày 13-8-1945, Ủy ban đã ban bố Quân lệnh số 1.

Ngay sau khi được tin Nhật đầu hàng, Trung ương Đảng và Tổng bộ Việt Minh đã thành lập Ủy ban Khởi nghĩa toàn quốc gồm 5 người do Tổng bí thư Trường Chinh trực tiếp phụ trách. 23 giờ ngày 13-8-1945, Ủy ban đã ban bố Quân lệnh số 1. Văn kiện lịch sử này kêu gọi: “Hỡi quân dân toàn quốc! Giờ Tổng khởi nghĩa đã đến. Cơ hội có một cho nhân dân Việt Nam vùng dậy giành lấy chính quyền độc lập cho nước nhà !”. Văn kiện thông báo việc thành lập Ủy ban Khởi nghĩa và kêu gọi toàn thể nhân dân và các lực lượng vũ trang cách mạng hãy hành động theo mệnh lệnh của Ủy ban Khởi nghĩa để giành thắng lợi hoàn toàn.


14-8-1945 :Phát xít Nhật tuyên bố đầu hàng phe Đồng minh.

Ngày 8-8-1945, Liên Xô tuyên chiến với Nhật. Ngày 9-8, quân đội Xô viết mở màn chiến dịch tổng công kích đạo quân Quang Đông của Nhật ở chiến trường Mông Cổ và Đông Bắc Trung Quốc. Chiến dịch kéo dài đến 28-8, tiêu diệt 1 triệu quân của lực lượng chiến lược trụ cột của Nhật vào giai ñoaïn kết thúc cuộc Chiến tranh thế giới thức hai.

Ngày 8-8-1945, Liên Xô tuyên chiến với Nhật. Ngày 9-8, quân đội Xô viết mở màn chiến dịch tổng công kích đạo quân Quang Đông của Nhật ở chiến trường Mông Cổ và Đông Bắc Trung Quốc. Chiến dịch kéo dài đến 28-8, tiêu diệt 1 triệu quân của lực lượng chiến lược trụ cột của Nhật vào giai ñoaïn kết thúc cuộc Chiến tranh thế giới thức hai. Cũng trong thời gian này, Mỹ ném hai quả bom nguyên tử xuống Hirôsima (6-8) và Nagadaki (9-8). Ngày 14-8, Hội đồng chiến tranh tối cao và nội các Nhật thông qua chiến dịch đầu hàng không điều kiện. Ngày 15-8, Đài phát thanh Nhật truyền đi sắc lệnh của Nhật Hoàng về việc chấp nhận các điều kiện đầu hàng Đồng minh. Lễ ký Hiệp ước đầu hàng không điều kiện được tiến hành trêm chiến hạm Mitsuri của Mỹ đậu ở ngoaøi khơi vịnh Tôkiô ngày 2-9-1945.


13 đến 15-8-1945 :Hội nghị Toàn quốc của Đảng Cộng sản Đông Dương họp tại Tân Trào.

Tham dự hội nghị có các đại biểu các Đảng bộ địa phương khắp cả nước, một số đại biểu hoạt động ở nước ngoài, đại biểu của Khu Giải phóng và các chiến khu. Hội nghị họp đúng vào lúc phát xít Nhật đầu hàng, tình thế cách mạng trở nên khẩn trương như Nghị quyết của Hội nghị đã vạch rõ: “Những điều kiện khởi nghĩa ở Đông Dương đã chín muồi…toàn dân tộc ta đang sôi nổi đợi giờ khởi khĩa giành chính quyền độc lập”.

Tham dự hội nghị có các đại biểu các Đảng bộ địa phương khắp cả nước, một số đại biểu hoạt động ở nước ngoài, đại biểu của Khu Giải phóng và các chiến khu. Hội nghị họp đúng vào lúc phát xít Nhật đầu hàng, tình thế cách mạng trở nên khẩn trương như Nghị quyết của Hội nghị đã vạch rõ: “Những điều kiện khởi nghĩa ở Đông Dương đã chín muồi…toàn dân tộc ta đang sôi nổi đợi giờ khởi khĩa giành chính quyền độc lập”. Sau khi phân tích tình hình thế giới và trong nước, bản Nghị quyết đề cập tới hàng loạt vấn đề cụ thể và cấp bách như: công tác ngoại giao, tuyên truyền, cổ động, nhiệm vụ quân sự, kinh tế, vấn đề giao thông, vận tải, vận động các giới và các đảng phái, vấn đề cán bộ…Hội nghị đã thông qua 10 chính sách lớn của Việt Minh, coi đó là mục tiêu cơ bản và trước mắt của toàn Đảng, toàn dân và đề ra chính sách đối ngoại dựa trên nguyên tắc thêm bạn bớt thù nhằm tranh thủ đồng minh, chống lại mọi âm mưu của các thế lực đế quốc đảm bảo việc giành và giữ vững nền độc lập. Hội nghị cũng bầu bổ sung Ban chấp hành Trung ương Đảng một số thành viên, trong đó có Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Chí Thanh.


16 đến 17-8-1945 :Đại hội quốc dân họp ở Tân Trào quyết định tổng khởi nghĩa trong cả nước.

Tham dự đại hội có hơn 60 đại biểu Trung, Nam, Bắc, kiều bào ở nước ngoài, các đảng phái chính trị, các đoàn thể nhân dân, các dân tộc và tôn giáo…Đại hội đã quán triệt đường lối của Hội nghị toàn quốc Đảng Cộng sản Đông Dương vừa họp là tiến hành tổng khởi nghĩa giành chính quyền trước khi quân Đồng minh nhảy vào Đông Dương.

Tham dự đại hội có hơn 60 đại biểu Trung, Nam, Bắc, kiều bào ở nước ngoài, các đảng phái chính trị, các đoàn thể nhân dân, các dân tộc và tôn giáo…Đại hội đã quán triệt đường lối của Hội nghị toàn quốc Đảng Cộng sản Đông Dương vừa họp là tiến hành tổng khởi nghĩa giành chính quyền trước khi quân Đồng minh nhảy vào Đông Dương. Đại hội tán thành chủ trương phát động tổng khởi nghĩa vũ trang và thông qua 10 chính sách lớn của Việt Minh.

Đại hội cũng quy định Quốc kỳ là lá cờ đỏ sao vàng năm cánh, Quốc ca là bài Tiến quân ca (của nhạc sĩ Văn Cao) và cử ra Ủy ban Giải phóng dân tộc Việt Nam, tức Chính phủ lâm thời do lãnh tụ Hồ Chí Minh làm chủ tịch và có một Ủy ban Thường trực gồm 5 người: Hồ Chí Minh, Trần Huy Liệu, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Lương Bằng và Dương Đức Hiền. Trong tình hình khẩn trương này, Ủy ban Giải phóng dân tộc giao quyền chỉ huy cho Ủy ban Khởi nghĩa toàn quyền hành động.


19-8-1945 :Khởi nghĩa giành chính quyền ở Hà Nội và các vùng lân cận.

Tại Hà Nội : Không khí sôi sục khởi nghĩa bắt đầu từ sự kiện Việt Minh biến cuộc biểu tình của Tổng hội viên chức ủng hộ Chính phủ Trần Trọng Kim ngày 17-8 thành cuộc biểu dương lực lượng cách mạng của quần chúng.

Tại Hà Nội : Không khí sôi sục khởi nghĩa bắt đầu từ sự kiện Việt Minh biến cuộc biểu tình của Tổng hội viên chức ủng hộ Chính phủ Trần Trọng Kim ngày 17-8 thành cuộc biểu dương lực lượng cách mạng của quần chúng. Ngày 19-8, một cuộc mít tinh lớn do Việt Minh tổ chức tại Quảng trường Nhà hát lớn đã kết thúc bằng cuộc tuần hành thị uy của quần chúng phối hợp với lực lượng vũ trang chiếm đóng các sở, cơ quan đầu não của chính quyền bù nhìn theo lời kêu gọi của Ủy ban Quân sự cách mạng. Ngày 20-8, Ủy ban Nhân dân cách mạng Bắc Bộ và Hà Nội chính thức thành lập.

Tại Thái Bình : Khởi nghĩa tại thị xã đồng thời diễn ra với các huyện Quỳnh Côi, Tiên Hưng, Phụ Dực, giành chính quyền trong ngày 19-8. Các huyện còn lại cũng lần lược nổi dậy. Ngày 25-8, quần chúng mít tinh hoan nghênh Ủy ban Nhân dân cách mạng Thái Bình ra mắt.

Tại Phúc Yên : Ngày 19-8, cùng lúc với thị xã Phúc Yên, các huyện Kim Anh, Đa Phúc nổi dậy giành chính quyền đập tan âm mưu phá hoại của Đại Việt, liên tục đối phó với quân Nhật (20-8) và các đơn vị Quốc dân đảng Trung Hoa (27-8) bảo vệ chính quyền cách mạng…

Ngoài ra khởi nghĩa cũng diễn ra sôi nổi ở các nơi như: Bắc Ninh, Thái Nguyên, Ninh Bình, Sơn Tây,…


19-08-1945: Cách mạng tháng tám, tổng khởi nghĩa giành chính quyền.
  • 19/08/1945
  • Cách mạng tháng tám, tổng khởi nghĩa giành chính quyền.

Đầu năm 1945, quân đội Xô Viết liên tiếp giành thắng lợi trên chiến trường Châu Âu, giải phóng hàng loạt nước và tiến thẳng vào sào huyệt của phát xít Đức ở Béclin. Ngày 8/5/1945, phát xít Đức đầu hàng vô điều kiện. Ngày 8/8/1945, Liên Xô tuyên chiến với phát xít Nhật, đẩy quân phiệt Nhật vào tình thế thất bại. Ngày 13/8/1945, Hội nghị toàn quốc của Đảng họp ở Tân Trào, nhận định thời cơ khởi nghĩa giành chính quyền đã tới, những điều kiện khởi nghĩa ở Đông Dương đã chín muồi. Uỷ ban khởi nghĩa gửi quân lệnh số 1 cho đồng bào và cho chiến sĩ cả nước ngay trong đêm ấy.

Ngày 16/8/1945, đại hội họp ở Tân Trào đã thông qua “10 Chính sách lớn của Việt Minh”, thông qua “lệnh tổng khởi nghĩa” quyết định Quốc Kỳ nền đỏ, sao vàng, chọn bài tiến quân ca làm Quốc ca và bầu ra uỷ ban dân tộc giải phóng Trung Ương, tức chính phủ lâm thời do đồng chí Hồ Chí Minh làm chủ tịch.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra lời kêu gọi: “Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn thể đồng bào ta hãy đứng dậy đem sức ta mà giải phóng cho ta”. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, hơn 20 triệu nhân dân ta từ Bắc đến Nam đã tiến hành cuốc tổng khởi nghĩa cách mạng tháng tám thành công.

Cuộc khởi nghĩa bắt đầu từ 14/8, một ngày sau khi Hội nghị toàn quốc của Đảng khai mạc. Từ ngày 14 đến 18, tổng khởi nghĩa giành được thắng lợi ở nông thôn đồng bằng miền Bắc, đại bộ phận miền Trung, một phần miền Nam và các thị xã Bắc Giang, Hải Phòng, Hà Tĩnh, Hội An.

Ngày 17/8, ở Hà Nội, tổng hội viên chức chính quyền bù nhìn tổ chức một cuộc mittinh lớn tại Quảng trường nhà hát thành phố, có hàng vạn người tham gia để ủng hộ chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim. Trong mittinh này, dưới sự lãnh đạo của xứ Uỷ Bắc Kỳ và thành Uỷ Hà Nội, quần chúng cách mạng đã giương cao lá cờ đỏ sao vàng, chiếm lấy diễn đàn cuộc mittinh, cán bộ Việt Minh đã diễn thuyết báo tin cho đồng bào biết quân phiệt Nhật đã đầu hàng và giới thiệu chủ trương đường lối cứu nước của Việt Minh, kêu gọi nhân dân đánh đổ chính quyền bù nhìn thân Nhật. Cuộc mittinh đã tiến thành cuộc biểu tình, tuần hành thị uy, bắt đầu từ quảng trường nhà hát thành phố và lan khắp nơi trên phố phường Hà Nội. Cả Hà Nội tưng bừng khí thế sục sôi khởi nghĩa.

Ngụy quyền cực kỳ bối rối hoang mang, chúng dựng lên cái gọi là “Uỷ ban chính trị” đề nghị với Việt Minh: “Đằng nào các ông cũng thắng, nhưng để điều đình với Đồng Minh sẽ vào Đông Dương giải giáp quân Nhật, đề nghị vùng nông thôn cách thành phố 15km là thuộc quyền các ông, còn thành phố cần có nhân sĩ, trí thức đứng ra giao dịch với Đồng Minh”.

Đại biểu Việt Minh đã trả lời dứt khoát, “giao dịch với Đồng Minh lúc này, ngoài Việt Minh không ai có thể có lực lượng và danh nghĩa cả”.
Sáng ngày 19/8, theo lời kêu gọi của Việt Minh, cả Hà Nội vùng dậy dưới rừng cờ đỏ sao vàng xuống đường tiến thẳng về trung tâm Nhà hát thành phố để dự mittinh. Họ vừa đi vừa hô khẩu hiệu:

* Đả đảo chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim.
* Thành lập chính phủ dân chủ cộng hòa Việt Nam.
* Anh em binh lính hãy mang súng gia nhập hàng ngũ chiến đấu bên cạnh Việt Minh.
* Việt Nam hoàn toàn độc lập.

Cuộc mittinh diễn ra vào ngày 19/8/1945. Sau loạt súng chào cờ và bài Tiến Quân Ca, đại biểu uỷ ban quân sự cách mạng đọc lời hiệu triệu của Việt Minh. Cuộc mittinh trở thành cuộc biểu tình vũ trang tiến vào chiếm phủ khâm sứ, trại lính bảo an và các cơ sở của chính phủ bù nhìn.

Từ Hà Nội, làn sóng cách mạng toả đi khắp nơi, cả nước vùng dậy đấu tranh giành chính quyền và liên tiếp giành thắng lợi.
Cách mạng tháng tám là sự kiện vĩ đại trong lich sự dân tộc, đánh dấu bước tiến nhảy vọt của cách mạng Việt Nam. Đây là lần đầu tiên giai cấp công nhân và nhân dân lao động giành được chính quyền trong cả nước, lần đầu tiên chế độ dân chủ nhân dân ở Việt Nam ra đời.


23-8-1945 :Khởi nghĩa giành chính quyền ở Thừa Thiên Huế.

Tại Thừ Thiên - Huế : Lệnh khởi nghĩa được ban hành ngày 15-8. Ngày 18-8, các huyện lỵ Phong Điền, Phú Lộc khởi nghĩa thắng lợi, tiếp đó là huyện lỵ Hương Thủy (22-8), Hương Trà, Phú Vang, Quảng Điền….

Tại Thừ Thiên - Huế : Lệnh khởi nghĩa được ban hành ngày 15-8. Ngày 18-8, các huyện lỵ Phong Điền, Phú Lộc khởi nghĩa thắng lợi, tiếp đó là huyện lỵ Hương Thủy (22-8), Hương Trà, Phú Vang, Quảng Điền…. Từ ngày 21-8, lực lượng vũ trang cách mạng đã hoạt động trong nội thành Huế và ngày 23-8, lực lượng cách mạng đã biến cuộc biểu tình của ngụy quyền tổ chức thành cuộc tuần hoaønh thị uy giành chính quyền trong toàn thành phố (30-8-1945).


25-8-1945 :Khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi ở Sài Gòn.

Tại Sài Gòn : Tối 20-8, Việt Minh đã tổ chức mít tinh trong thành phố kêu gọi khởi nghĩa. Ngày 24-8, nhiều cuộc biểu tình, tuần hành của quần chúng cách mạng đã diễn ra trên các đường phố. Đêm 24-8, nhiều công sở bị lực lượng cách mạng chiếm đóng.

Tại Sài Gòn : Tối 20-8, Việt Minh đã tổ chức mít tinh trong thành phố kêu gọi khởi nghĩa. Ngày 24-8, nhiều cuộc biểu tình, tuần hành của quần chúng cách mạng đã diễn ra trên các đường phố. Đêm 24-8, nhiều công sở bị lực lượng cách mạng chiếm đóng. Sáng 25-8, lực lượng cách mạng làm chủ hòan toàn thành phố. Khởi nghĩa kết thúc bằng cuộc biểu tình khổng lồ của một triệu quần chúng chào mừng Ủy ban Hành chính lâm thời Nam Bộ, do Trần Văn Giàu làm Chủ tịch, ra mắt.

Ngòai ra cuộc khởi nghĩa cũng diễn ra mạnh mẽ ở khắp nơi như Gia Định, Bình Thuận, Long Xuyên, Vĩnh Long, Bến Tre…

Đến ngày 28-8-1945, Sau khởi nghĩa giành chính quyền tại các tỉnh lỵ Đồng Nai Thượng, Hà Tiên,… Khởi nghĩa giành chính quyền trên cả nước, về căn bản kết thúc.


30-8-1945 :Vua Bảo Đại thoái vị tại Ngọ Môn – Huế.

Ngày 23-8-1945, nhân dân Thừa Thiên khởi nghĩa giành chính quyền tại Huế. Cùng ngày, Ủy ban Nhân dân cách mạng Bắc Bộ gửi điện báo tin Chính phủ lâm thời Việt Nam dân chủ cộng hòa đã thành lập và yêu cầu Bảo Đại thoái vị.

Ngày 23-8-1945, nhân dân Thừa Thiên khởi nghĩa giành chính quyền tại Huế. Cùng ngày, Ủy ban Nhân dân cách mạng Bắc Bộ gửi điện báo tin Chính phủ lâm thời Việt Nam dân chủ cộng hòa đã thành lập và yêu cầu Bảo Đại thoái vị. 2 giờ 30 ngày 24-8-1945, Bảo Đại điện cho chính phủ lâm thời xin thoái vị.

Chiều 25-8, Chính phủ lâm thời điện cho Bảo Đại yêu cầu phải “ban dụ chính thức thoái vị và sẽ cử đại biểu của Chính phủ vào nhận lễ thoái vị”. Ngày 27-8, phái đoàn gồm : Trần Huy Liệu (trưởng đòan), Nguyễn Lương Bằng và Cù Huy Cận rời Hà Nội. Chiều 29-8, Bảo Đại tiếp đoàn tại điện Kiến Trung và chấp nhận những điều kiện và nghi thức lễ thoái vị.

Chiều 30-8-1945, lễ thoái vị được chính thức cử hành trước Ngọ Môn. Bảo Đại mặc triều phục Hòang đế đọc chiếu tự nguyện thoái vị. Trần Huy Liệu thay mặt Chính phủ lâm thời chấp nhận việc thoái vị của Bảo Đại và nhận ấn kiếm vàng tượng trưng cho sự chấm dứt quyền lực của triều đại phong kiến cuối cùng ở Việt Nam. Lá cờ “quẻ Ly” bị hạ xuống và lá cờ đỏ sao vàng được kéo lên trên cột cờ đại nội trước sự chứng kiến của đông đảo nhân dân thừa Thiên Huế.


2-9-1945 :Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản “Tuyên ngôn Độc lập”.

Tại quảng trường Ba Đình – Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản “Tuyên ngôn Độc lập” tuyên bố sự ra đời của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. “Ngày 2-9-1945, Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra mắt quốc dân tại Quảng Trường Ba Đình, Hà Nội.

Tại quảng trường Ba Đình – Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản “Tuyên ngôn Độc lập” tuyên bố sự ra đời của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.

“Ngày 2-9-1945, Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra mắt quốc dân tại Quảng Trường Ba Đình, Hà Nội. Hàng chục vạn người gồm đủ các đòan thể, các giới… tới dự, cùng với Đội quân Giải phóng ở chiến khu mới về. 2 giờ chiều, mít tinh bắt đầu khai mạc. Hồ Chí Minh đọc lời Tuyên ngôn của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Tiếp đó, toàn thể nhân viên trong Chính phủ làm lễ tuyên thệ, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp trình bày về tình hình trong nước và những chính sách của Chính phủ. Tiếp đến, Trần Huy Liệu, Bộ trưởng Bộ Tuyên truyền báo cáo về việc đoàn đại biểu chính phủ đi tước ấn kiếm Bảo Đại và trình bày với quốc dân chiếc “ấn quốc bảo” và thanh kiếm vàng mà Bảo Đại mới trao trả cho nhân dân. Nguyễn Lương Bằng, đại biểu của Tổng bộ Việt Minh nói về cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc của Việt Minh và hô hào nhân dân đòan kết ủng hộ Chính phủ, thi hành triệt để chương trình kiến quốc của Việt Minh. Tới 3 giờ chiều, toàn thể quốc dân tuyên thệ. Sau mỗi lời thề, toàn thể đồng bào đều giơ tay hô lớn “Xin thề !” tỏ ra ý chí bền vững không gì lay chuyển nổi của cả một dân tộc đứng lên giành tự do độc lập. Cuối cùng, Chủ tịch Hồ Chí Minh bước ra lễ đài một lần nữa. Người hô hào nhân dân kiên quyết hy sinh giữ vững nền độc lập vừa mới giành được. Lễ mít tinh bế mạc biến thành một cuộc biểu tình tuần hành vĩ đại trong thành phố”

Trong bản Tuyên ngôn Độc lập lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định trước thế giới : ‘Nước Việt Nam có quyền được hưởng tự do và độc lập và sự thật đã trở thành một nước tự do và độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy !”.

Ngày 2-9-1945 mãi đi vào lịch sử như một ngày độc lập đầu tiên của dân tộc Việt Nam sau ngót một thế kỷ đô hộ của chủ nghĩa thực dân Pháp, ghi nhận chiến công của Việt Nam – một dân tộc tiên phong trong sự nghiệp giải phóng các dân tộc thuộc địa trên thế giới. Ngày 2-9 trở thành ngày Quốc khánh của nhân dân Việt Nam và đó cũng là cái mốc chấm dứt lịch sử cận đại Việt Nam, mở ra một kỷ nguyên mới cho lịch sử dân tộc ta.


2-9-1945: QUỐC KHÁNH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
  • 2/9/1945

QUỐC KHÁNH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Cách mạng tháng tám thành công, Trung Ương Đảng phái đồng chí Lê Đức Thọ lên chiến khu đón chủ tịch Hồ Chí Minh về Hà Nội và nghỉ tại thôn Phú Gia, xả Phú Thượng, Từ Liêm. Sau đó Người về ở nhà số 48 Hàng Ngang, Hà Nội.

Tại cuộc họp của chính phủ lâm thời, theo đề nghị của Người một chính phủ thống nhất toàn quốc thể hiện ở chính sách đoàn kết rộng rãi các tầng lớp nhân dân, các đảng phái yêu nước và những nhân sĩ tiến bộ được thành lập.

Buổi trưa ngày 2/9/1945, tại quảng trường Ba Đình – Hà Nội, trong cuộc mitting của trên 50vạn nhân dân Hà Nội và vùng lân cận chào mừng chính phủ, chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt chính phủ lâm thời đọc bản tuyên ngôn độc lập tuyên bố với nhân dân Việt Nam và thế giới rằng: nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đã ra đời. Bản tuyên ngôn độc lập khẳng định:

“Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng. Dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do… Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phía Đồng Minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do, dân tộc đó phải được độc lập! …. Nước Việt Nam có quyền đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy.”

Tuyên ngôn độc lập do chủ tịch Hồ Chí Minh viết là sự phát triển của bản yêu cầu mà Người gửi cho hội nghị hòa bình ở Vec-xây năm 1919, là sự phát triển của chương trình Việt Minh mà người soạn thảo năm 1941. Nó là kết tinh những quyền lợi cơ bản và những nguyện vọng tha thiết nhất của dân tộc Việt Nam và nói lên tâm hồn trong sáng, khí phách hào hùng của nhân dân ta.

“ Bản tuyên ngôn độc lập là kết quả của bao nhiêu máu đã đổ và bao nhiêu tính mạng đã hy sinh của những người con anh dũng của Việt Nam trong nhà tù, trong trại tập trung, trên những hải đảo xa xôi, trên những máy chém, trên chiến trường. Bản tuyên ngôn độc lập là kết quả của bao nhiêu hy vọng gắng sức và tin tưởng của hơn 20 triệu nhân dân Việt Nam” (Trần Dân Tiên - những mẩu chuyện về đời hoạt động của chủ tịch Hồ Chí Minh).

Ngày độc lập 2/9/1945 là ngày hội lớn của dân tộc Việt Nam, chấm dứt chế độ thực dân phong kiến ở nước ta, đồng thời mở ra một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên nhân dân ta làm chủ vận mệnh của mình để thực hiện độc lập, tự do và hạnh phúc

Từ đó, ngày 2/9 trở thành ngày quốc khánh của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, nay là nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.


23-9-1945 :Thực dân Pháp đánh chiếm Sài Gòn. Nhân dân Nam Bộ đứng lên chống thực dân Pháp trở lại xâm lược.

Ngày 2-9, trong lúc hàng chục vạn nhân dân Sài Gòn – Chợ Lớn mít tinh mừng độc lập thì những tên lính Pháp phản động đã nổ súng khiêu khích làm nhiều người chết và bị thương. Lập tức, tự vệ thành phố bắn trả và bắt giam một số.

Ngày 2-9, trong lúc hàng chục vạn nhân dân Sài Gòn – Chợ Lớn mít tinh mừng độc lập thì những tên lính Pháp phản động đã nổ súng khiêu khích làm nhiều người chết và bị thương. Lập tức, tự vệ thành phố bắn trả và bắt giam một số. Vu cáo chính quyền nhân dân không giữ được trật tự, phái bộ Anh lệnh cho lính Nhật tước vũ khí và đòi chính quyền nhân dân giải tán các đơn vị tự vệ, cấm nhân dân biểu tình. Ngày 20, quân Anh thả số tù binh Pháp bị quân Nhật bắt giam từ ngày Nhật đảo chính và đóng cửa tất cả báo chí Sài Gòn. Ngày 21, quân Anh chiếm đóng trụ sở cảnh sát quận 3, thả tù binh Pháp và trang bị vũ khí cho chúng, đồng thời ra lệnh thiết quân luật, cấm nhân dân không được biểu tình, hội họp, đem theo vũ khí và đi lại ban đêm. Tối 22, quân Anh chiếm đài vô tuyến điện. Đến 0 giờ ngày 23, quân Anh làm ngơ cho quân Pháp đánh úp một loạt mục tiêu quan trọng trong thành phố Sài Gòn.

Sáng ngày 23, Xứ ủy Nam Bộ và UBND Nam Bộ họp cấp tốc ở thành phố Cây Mai (Chợ Lớn) chủ trương kiên quyết kháng chiến. Hội nghị quyết định: tổng đình công, không hợp tác với giặc Pháp, đánh du kích, phá hoại đường giao thông tiếp tế, bao vây, tiêu hao, tiêu diệt địch. Chiều 23, Sài Gòn triệt để tổng đình công, không hợp tác. Công sở, xí nghiệp, cửa hàng đều đóng cửa, chợ không họp, xe ngừng chạy. Các đơn vị Xung phong, Công đoàn, Thanh niên Tiền phong lập tức chiếm lĩnh các vị trí chiến đấu, đánh trả quân Pháp xâm lược.


23-9-1945: Ngày Nam Bộ Kháng chiến
  • 23/9/1945

Ngày Nam Bộ Kháng chiến

Chỉ 3 tuần lễ sau khi nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời, ngày 23/9/1945 thực dân Pháp núp dưới bóng quân đội Anh tước vũ khí của quân đội Nhật ở Nam Bộ, âm mưu quay trở lại xâm lược nước ta lần nữa. 6.000 quân Pháp dựa vào hơn 1 vạn quân Anh đã trắng trợn gây hấn ở thành phố Sài Gòn. Chúng mưu toan chiếm Nam Bộ làm bàn đạp chiếm cả Việt Nam và Đông Dương.

7h sáng ngày 23/9, Xứ uỷ và Uỷ ban hành chính Nam Bộ (sau đổi tên thành Uỷ ban kháng chiến) họp khẩn cấp tại phố Cây Mai (Chợ Lớn) có đồng chí Hoàng Quốc Việt thay mặt Trung Ương Đảng và tổng bộ Việt Minh tham dự. Hội nghị quyết định phát động nhân dân kiên quyết kháng chiến chống xâm lược. Uỷ ban kháng chiến Nam Bộ được thành lập, ra lệnh tổng bãi công, bãi thị, bất hợp tác với địch, phong toả địch. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân Nam Bộ sục sôi căm thù, nhất tề đứng dậy, xông ra mặt trận quyết chiến với quân xâm lược, mở ra một trang sử oanh liệt mới: Nam Bộ Kháng Chiến.

Chiều 23/9, cả Sài Gòn đình công, không hợp tác với Pháp. Các công sở xí nghiệp, hãng buôn đóng cửa, chợ không họp, xe ngừng chạy. Các ụ chiến đấu mọc lên khắp nơi. Ngay những ngày đầu quân Sài Gòn đã tiêu hao sinh lực địch và phá huỷ một phần cơ sở vật chấ của chúng. Tiếng súng kháng chiến ở Sài Gòn chấn động cả nước. Nhiều tỉnh Nam Bộ đưa lực lượng đoàn viên, thanh niên về góp sức với Sài Gòn chống quân xâm lược.

Ban thường vụ Trung Ương Đảng họp chủ trương đánh mạnh quân Pháp ở Nam bộ, quyết tâm giành thắng lợi ở chiến trường để tạo điều kiện cho việc đấu tranh với quân Tưởng ở ngoài Bắc. Ngày 27/9/1945, chủ tich Hồ Chí Minh gửi thư cho đồng bào miền Nam khẳng định quyết tâm kháng chiến của Đảng, chính phủ và nhân dân ta, chỉ rõ mục tiêu chiến đấu vì độc lập tự do của tổ quốc. Người nêu cao lẽ sống “thà chết tự do hơn sống nô lệ” của nhân dân ta. Đáp lời kêu gọi của Người, xứng đáng với lòng tin cậy và sự cổ vũ của nhân dân cả nước, nhân dân Nam Bộ vùng dậy dũng cảm đánh trả kẻ địch có trang bị hiện đại, làm thất bại âm mưu của địch, tạo điều kiện để ta củng cố chính quyền cách mạng, xây dựng chế độ mới, chuẩn bị cho cuộc kháng chiến toàn quốc.

Tháng 2/1946, thay mặt chính phủ và đồng bào cả nước, chủ tịch Hồ Chí Minh tặng Nam Bộ danh hiệu vẻ vang: “Thành đồng tổ quốc”


26-9-1945 :Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi đồng bào Nam Bộ kháng chiến.

Qua đài phát thanh, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Tôi chắc và đồng bào cả nước đều chắc vào kiên quyết ái quốc của đồng bào Nam Bộ… Thà chết tự do hơn sống nô lệ… Tôi chắc và đồng bào Nam Bộ cũng chắc rằng Chính phủ và toàn quốc đồng bào sẽ hết sức giúp những chiến sĩ và nhân dân hiện đang hy sinh tranh đấu để giữ vững nền độc lập của nước nhà…”.

Qua đài phát thanh, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Tôi chắc và đồng bào cả nước đều chắc vào kiên quyết ái quốc của đồng bào Nam Bộ… Thà chết tự do hơn sống nô lệ… Tôi chắc và đồng bào Nam Bộ cũng chắc rằng Chính phủ và toàn quốc đồng bào sẽ hết sức giúp những chiến sĩ và nhân dân hiện đang hy sinh tranh đấu để giữ vững nền độc lập của nước nhà…”. Cùng ngày, Chính phủ Lâm thời ra lời hiệu triệu kêu gọi đồng bào cả nước “Hãy ủng hộ phong trào đấu tranh oanh liệt của đồng bào Nam Bộ”.


25-11-1945 :Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra Chỉ thị “Kháng chiến kiến quốc”.

Chỉ thị xác định một số vấn đề cơ bản về đường lối và nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân trong giai ñoaïn vẫn phải hăng hái kiên quyết hòan thành nhiệm vụ thiên liên ấy. Khẩu hiệu vẫn là Dân tộc trên hết – Tổ quốc trên hết”.

Chỉ thị xác định một số vấn đề cơ bản về đường lối và nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân trong giai ñoaïn vẫn phải hăng hái kiên quyết hòan thành nhiệm vụ thiên liên ấy. Khẩu hiệu vẫn là Dân tộc trên hết – Tổ quốc trên hết”. “Kẻ thù chính của nhân dân Đông Dương lúc này là thực dân Pháp xâm lược, phải tập trung ngọn lửa đấu tranh vào chúng. Nhiệm vụ riêng trong nước là phải củng cố chính quyền chống thực dân Pháp xâm lược, bài trừ nội phản, cải thiện đời sống nhân dân”. Chỉ thị còn nêu rõ những nhiệm vụ cụ thể về các mặt chính trị, quân sự, văn hóa, ngoại giao; hướng dẫn toàn Đảng, toàn dân chống thù trong giặc ngoài, bảo vệ và xây dựng chính quyền nhân dân.