Sự kiện Thời kì Pháp xâm lược

25-8-1883 :Pháp buộc triều Nguyễn ký Hiệp ước Hácmăng.

25-8-1883 :Pháp buộc triều Nguyễn ký Hiệp ước Hácmăng.


Triều đình Huế và thực dân Pháp ký “Hiệp ước hòa bình” tại Huế. Hiệp ước này còn được gọi là “Hiệp ước Hacmăng”. Đại diện triều đình Huế là: Trần Đình Túc, Hiệp biện đại học sĩ, chánh sứ; Nguyễn Trọng Hiệp, Thượng thư Bộ Lại, phó sứ.

Triều đình Huế và thực dân Pháp ký “Hiệp ước hòa bình” tại Huế. Hiệp ước này còn được gọi là “Hiệp ước Hacmăng”.

Đại diện triều đình Huế là: Trần Đình Túc, Hiệp biện đại học sĩ, chánh sứ; Nguyễn Trọng Hiệp, Thượng thư Bộ Lại, phó sứ. Đại diện chính phủ Pháp là Hacmăng (Harmand).

Hiệp ước gồm 27 điều khoaûn. Nội dung bao trùm là: Triều đình Huế thừa nhận và chấp nhận Nam Kỳ là thuộc địa của Pháp; thừa nhận và chấp nhận nền bảo hộ của Pháp ở Trung Kỳ và Bắc Kỳ.

Triều đình Huế bị thực dân Pháp tước bỏ hoaøn toàn quyền đối ngoại. Triều đình Huế muốn đặt quan hệ ngoại giao với bất kỳ nước nào đều phải được chính phủ Pháp cho phép (điều 1 Hiệp ước


10 đến 11-1883 :Nhân dân làng xã ven Hải Phòng nổi dậy chống Pháp.

Nhân dân các làng xã ven Hải Phòng nổi dậy chống đánh Pháp và bọn theo đạo làm tay sai cho Pháp. Nhiều đội nghĩa quân được thành lập. Nhiều trận phục kích, tấn công địch đã diễn ra trên tuyến đường thủy, bộ từ Hải Phòng đi Hải Dương.

Nhân dân các làng xã ven Hải Phòng nổi dậy chống đánh Pháp và bọn theo đạo làm tay sai cho Pháp. Nhiều đội nghĩa quân được thành lập. Nhiều trận phục kích, tấn công địch đã diễn ra trên tuyến đường thủy, bộ từ Hải Phòng đi Hải Dương. Tỉnh thành Hải Dương bị nghĩa quân vây trong nhiều ngày; đường trong tỉnh bị phong tỏa và dựng chướng ngại vật ở nhiều đọan; ngót 200 lá cờ của quân công thành mọc lên khắp nơi, từ trong thành, trên mặt thành, cho đến các đường phố ngoài thành. Ngày 19-11-1883, viện binh Pháp đến vây thành, nghĩa quân rút lui bảo toàn lực lượng. Tướng Cuốcbê (Courbet) ra lệnh giới nghiêm các tỉnh Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Yên, Nam Định, Ninh Bình, tập trung quyền lực vào tay bọn sĩ quan quân sự để được độc lập hành động đàn áp phong trào chống Pháp.

 

1883-1913 :Phong trào nông dân Yên Thế.

Phong trào nông dân Yên Thế, là sự kiện quan trọng nhất của phong trào nông dân khởi nghĩa thời cận đại. Cuộc khởi nghĩa kéo dài trong 30 năm , từ thời Cần Vương qua đầu thế kỷ XX, luôn là ổ đề kháng quan trọng mà nhiều lực lượng chính trị phải tìm kiếm.

Phong trào nông dân Yên Thế, là sự kiện quan trọng nhất của phong trào nông dân khởi nghĩa thời cận đại. Cuộc khởi nghĩa kéo dài trong 30 năm , từ thời Cần Vương qua đầu thế kỷ XX, luôn là ổ đề kháng quan trọng mà nhiều lực lượng chính trị phải tìm kiếm.

Người đầu tiên có công xây dựng căn cứ khởi nghĩa ở vùng Yên Thế (tây bắc, tỉnh Bắc Giang) là Đề Nắm (Lương Văn Nắm). Năm 1892 ông mất, sự nghiệp được giao lại cho phó tướng Đề Thám (Trương Văn Thám).

Cuộc chiến đấu của nghĩa quân Yên Thế chủ yếu là những trận đánh đầy mưu mẹo, nghĩa quân đánh phá cuộc tấn công lớn đầu tiên của Pháp vào Phồn Xương tháng 8-1894…

Từ tháng 11-1909 đến 1913, thực dân Pháp tập trung lực lượng tấn công quyết liệt vào căn cứ nghĩa quân. Tuy vậy, trong vòng 10 tháng cuối cùng, nghĩa quân Yên Thế đã đánh thắng nhiều trận liên tiếp như trận Chợ Gồ tháng 1-1909, trận Sơn Quả tháng 2-1909, trận Rừng Phe tháng 2-1909, trận Hàm Lợn tháng 3-1909, trận Núi Sáng tháng 10-1909…

Do sức phản công của thực dân Pháp quá mạnh, cộng với sức cùng lực kiệt, nghĩa quân của Đề Thám dần bị suy yếu. Bản thân Đề Thám bị Pháp trêu đầu ở Nhã Nam ngày 12-10-1913. Phong trào nông dân Yên Thế chấm dứt.