Nhà Trần
Tổng quan

Tượng đồng Phật Hoàng Trần Nhân Tông
Nhà Trần hoặc Trần triều là triều đại phong kiến trong lịch sử Việt Nam, bắt đầu khi vua Thái Tông lên ngôi năm 1225 sau khi giành được quyền lực từ tay nhà Lý, trải qua 12 triều vua và chấm dứt khi vua Thiếu Đế, khi đó mới có 5 tuổi bị ép thoái vị vào năm 1400 để nhường ngôi cho ông ngoại là Hồ Quý Ly - tức Lê Quý Ly – tổng cộng là 175 năm.
Trong thời đại của vương triều này, nhà Trần tiếp tục đóng đô ở kinh đô Thăng Long (nay là Hà Nội) và bảo toàn được lãnh thổ vẹn toàn sau ba lần xâm lược của quân Mông-Nguyên ở Trung Quốc. Về chính sách chính trị, các vua nhà Trần cũng xây dựng bộ máy nhà nước hoàn thiện hơn so với nhà Lý. Cả các mặt kinh tế-xã hội, giáo dục và nghệ thuật cũng hoàn chỉnh hơn và cho thấy Nho giáo đã có ảnh hưởng rõ rệt tới triều đại. Dưới triều Trần, lực lượng quân đội được chú trọng phát triển đủ sức đánh dẹp các cuộc nội loạn và đương đầu với quân đội các nước lân bang. Mặc dù nhà Trần rất hưng thịnh trong những năm đầu, tuy nhiên triều đại bắt đầu suy yếu từ năm 1357 khi vua Trần Minh Tông qua đời, và trong tình trạng rối ren, Hồ Quý Ly đã cướp ngôi vào năm 1400. Triều đại Trần chính thức kết thúc từ đây.
Dưới triều Trần, có những sự kiện đáng ghi nhớ trong lịch sử Việt Nam, đặc biệt là sự kiện Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn lãnh đạo quân dân ba lần đánh bại đội quân Mông-Nguyên-vốn được mệnh danh là đội quân mạnh nhất thời bấy giờ.
Chi tiết
- Tên nước: Đại Việt
- Thời gian: từ năm 1225 đến năm 1400, trải qua 12 đời vua
- Kinh đô: Thăng Long (Hà Nội ngày nay)
- Các đời vua:
+) Trần Thái Tông (Trần Cảnh ) trị vì từ năm 1225-1258
+) Trần Thánh Tông (Trần Hoảng ) trị vì từ năm 1258-1278
+) Trần Nhân Tông ( Trần Khâm ) trị vì từ năm 1278- 1293
+) Trần Anh Tông (Trần Thuyên ) trị vì từ năm 1293- 1314
+) Trần Minh Tông (Trần Mạnh ) trị vì từ năm 1314- 1329
+) Trần Hiến Tông (Trần Vượng) trị vì từ năm 1329- 1341
+) Trần Dụ Tông ( Trần Hạo ) trị vì từ năm 1341 – 1369
+) Hôn Đức Công ( Dương Nhật Lễ) trị vì từ năm 1369- 1370
+) Trần Nghệ Tông (Trần Phủ ) trị vì từ năm 1370 – 1372
+) Trần Duệ Tông (Trần Kính) trị vì từ năm 1372 – 1377
+) Trần Phế Đế ( Trần Hiện/ Trần Nghiễn) trị vì từ năm 1377- 1388
+) Trần Thuận Tông (Trần Ngung ) trị vì từ năm 1388 – 1398
+) Trần Thiếu Đế (Trần An) trị vì từ năm 1398- 1400
- Bối cảnh lịch sử:
Năm 1223, Trần Thủ Độ, em họ Trần Thừa và Tự Khánh làm chỉ huy sứ, quản lĩnh cấm quân. Là người có âm mưu, quyết đoán, Trần Thủ Độ đã sắp xếp để vua Huệ Tông nhường ngôi cho công chúa Chiêu Thánh, rồi cắt tóc đi tu ở chùa Chân Giáo. Sau đó, Trần Thủ Độ lại thu xếp cho Lý Chiêu Hoàng lên 7 tuổi lấy con trai thứ của Trần Thừa là Trần Cảnh 8 tuổi. Một năm sau, vào tháng 12 âm lịch năm 1225, Trần Thủ Độ ép Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng, nhà Trần bắt đầu nắm quyền cai trị.
- Bộ máy chính trị:
Hoàn thiện hơn so với thời Lý. Sau khi giành được chính quyền, nhà Trần đã phân chia lại Đại Việt thành 12 lộ thay vì 24 lộ ở thời Lý. Bộ máy hành chính được củng cố theo hướng tăng tính tập quyền quan lieu. Các quan được cấp lương bổng theo nghạch, bậc; cứ 10 năm thăng tước 1 cấp, 15 năm thăng tước 1 bậc.

- Pháp luật:
+) Bộ Quốc triều thông chế, sau sửa chữa và bổ sung thành Quốc triều Hình Luật (giống như bộ Hình Thư năm 1042 thời Lý; quy định chắt chẽ bảo vệ nhà vua, cung điện, xem trọng bảo vệ của công và tài sản nhân dân, nghiêm cấm mổ trộm trâu bò, những người phạm tội bị xử phạt rất nghiêm khắc)
+) Bộ Quốc triều Hình Luật được bổ sung them: xác nhận và bảo vệ tư hữu tài sản, quy định mua bán ruộng đất; không hạn chế nuôi nô tỳ
+) Đặt cơ quan Thẩm hình viện để xử kiện
- Đối ngoại
+) Chủ trường giao hảo với các nước lân bang nhưng kiên quyết chống trả các thế lực ngoại xâm để bảo vệ độc lập, toàn vẹn lãnh thổ
+) Quan hệ tốt đẹp với các dân tộc thiểu số
- Quân đội:
Thời Trần nổi bật với những thành tựu về khoa học quân sự mà đứng đầu là Hưng Đạo Vương Trần Hưng Đạo với “Binh thư yếu lược”, để lại cho đời sau một bài học vô giá về kinh nghiệm chống xâm lăng, đập tan những quân đội ăn cướp tàn bạo và thiện chiến, bên cạnh tinh thần chiến đấu và trình độ võ nghệ cũng như thiết bị kỹ thuật, tướng sỹ còn phải được trang bị những tri thức về binh pháp.
Trong chiến tranh, nhà Trần có thể tập hợp lực lượng đông đảo như vậy là do thực hiện chế độ “Ngụ binh ư nông” có thể xem đây là sự kết hợp giữa kinh tế và quốc phòng, kết hợp giữa sản xuất nông nghiệp và tổ chức vũ trang của thời đại đó.
Quân chủ lực nhà Trần gồm cấm quân và quân các lộ. Quân các lộ ở đồng bằng được gọi là chính binh, quân các lộ ở miền núi được gọi là phiên binh.
Cấm quân: đứng đầu mỗi quân là một đại tướng quân. Mỗi quân có 30 đô, chỉ huy mỗi đô có chánh phó đại đội. Mỗi đô có 5 ngũ, đứng đầu mỗi ngũ là đầu ngũ. Ước tính số cấm quân đóng ở Thăng Long, Tức Mặc và một số nơi quan trọng là 20 vạn quân. Cấm quân là lực lượng quân đội tinh nhuệ nhất, chủ yếu có nhiệm vụ bảo vệ triều đình và hoàng gia.
Lộ quân: Tại cái phủ, lộ có lộ quân. Lộ quân làm nhiệm vụ phòng giữ ở các lộ. Mỗi lộ quân có khoảng 20 phong đoàn.
Ngoài ra còn có quân đội của các quý tộc, vương gia. Mỗi khi có chiến tranh, các lực lượng quân đội này cũng đóng vai trò rất quan trọng. Lực lượng quân đội này gồm 2 loại:
+) Sương quân: là quân của các đại gia tộc hay các quan quyền thế nhưng không thuộc họ vua
+) Vương hầu quân: do các quý tộc hoàng gia chiêu mộ, tổ chức huấn luyện và trang bị
- Giáo dục:
+) Sau khi thành lập, nhà Trần bắt đầu thực hiện chế độ khoa cử.
+) Năm 1232, khoa thi đầu tiên được mở và đặt ra học vị Thái học sinh.
+) Năm 1247, triều đình đặt lệ thi lấy Tam khôi gồm 3 người đỗ đầu là trạng nguyên, bảng nhãn, thám hoa và quy định 7 năm mở 1 khoa thi. Sau đó triều đình mở kỳ thi Đình để phân hạng cao thấp cho thái học sinh.
+) Năm 1305, nhà Trần đặt thêm học vị Hoàng Giáp.
+) Năm 1396, kỳ thi Hương lần đầu được tổ chức và được coi là một trong hai khoa thi chính thức của thi cử Nho học. Người đỗ ở trường Hương được cấp bằng Hương cống hay Cống sĩ.
+) Thành lập Quốc sử viện chuyên lo việc biên soạn lịch sử nước nhà. Bảng nhãn Lê Văn Hưu biên soạn bộ sử đầu tiên của dân tộc “Đại Việt sử ký” gồm 30 quyển, hoàn tất vào năm 1272
- Văn hóa – Nghệ thuật – Kiến trúc:
+) Năm 1248, Trần Quốc Tuấn viết “Hịch tướng sỹ” không những mang ý nghĩa là một tác phẩm văn học chính luận, thấm nhuần chủ nghĩa yêu nước mà còn có ý nghĩa to lớn về tư liệu lịch sử.

+) Văn học chữ Nôm bắt đầu xuất hiện và có những đóng góp to lớn cho văn học nước ta. Những cây bút nổi tiếng là Trần Thái Tông, Trần Thành Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Trần Quang Khải, Trương Hán Siêu, Phạm Ngũ Lão, Nguyễn Trung Ngạn……..
+) Phật giáo triều Trần rất phát triển và chi phối mạnh mẽ xã hội lúc bấy giờ. Chùa chiền được dựng lên khắp nơi, số người xuất gia tu hành rất đông, trong đó có nhiều người là hoàng tộc, kể cả Vua và Thái thượng hoàng. Vua Trần Nhân Tông là người đã lập ra phái thiền viện Trúc Lâm Yên Tử.

Hình tượng rồng thời Trần