Sự kiện Thời kì Pháp thuộc

13-1-1941 :Cuộc nổi dậy của binh lính Đô Lương (Nghệ An).

13-1-1941 :Cuộc nổi dậy của binh lính Đô Lương (Nghệ An).

Về sự kiện này, Nghị quyết Hội nghị Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương (5-1941) viết: “Ngày 13-1-1941, Đội Cung với 50 anh em binh lính Đô Lương ở Chợ Rạng, nổi dậy bạo động cướp đồn. Một tên quan một và hai vợ chồng anh kiểm lâm bị Tây giết, tóan quân ấy liền kéo về lấy thành Vinh.

Về sự kiện này, Nghị quyết Hội nghị Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương (5-1941) viết: “Ngày 13-1-1941, Đội Cung với 50 anh em binh lính Đô Lương ở Chợ Rạng, nổi dậy bạo động cướp đồn. Một tên quan một và hai vợ chồng anh kiểm lâm bị Tây giết, tóan quân ấy liền kéo về lấy thành Vinh. Nhưng công việc chưa thành thì cả toán quân đều bị bắt (4-1). Cuộc này do Đội Cung và 50 anh em binh lính tự động, không có Đảng chỉ huy”. Tòa án quân sự của thực dân Pháp họp từ 18 đến 20-2-1941 tại Hà Nội đã kết án tử hình 10 chiến sĩ, 12 án khổ sai chung thân và 24 án khổ sai từ 5 đến 20 năm.

Đội Cung và 9 đồng chí của ông đã bị thực dân Pháp đưa về hành hình tại Chợ Rạng vào sáng 25-4-1941.


8-2-1941 :Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trờ về nước, đặt căn cứ tại Pác Bó.

Cuối năm 1938, từ Liên Xô, Nguyễn Ái Quốc qua Trung Quốc và dừng lại hoạt động một thời gian ở Tây An và Diên An. Sau đó, theo một đơn vị Bát lộ quân, Nguyễn Ái Quốc đến Quế Lâm và tìm cách bắt liên lạc với các đồng chí trong nước.

Cuối năm 1938, từ Liên Xô, Nguyễn Ái Quốc qua Trung Quốc và dừng lại hoạt động một thời gian ở Tây An và Diên An. Sau đó, theo một đơn vị Bát lộ quân, Nguyễn Ái Quốc đến Quế Lâm và tìm cách bắt liên lạc với các đồng chí trong nước. Trong Năm 1939, qua đường dây liên lạc, Nguyễn Ái Quốc viết một số bài báo gởi về nước đăng trên tờ báo công khai của Đảng (Notre Voix – Tiếng nói chúng ta) và theo dõi tình hình cách mạng Việt Nam. Khoaûng đầu năm 1940, với các bí danh Hồ Quang, Trần, Vương. Nguyễn Ái Quốc tới Côn Minh, bắt liên lạc với tổ chức Đảng trong nước và tại đây đã gặp Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp từ Việt Nam sang. Tại Quế Lâm (6-1940), Nguyễn Ái Quốc chuẩn bị kế hoạch thành lập khu căn cứ cách mạng ở Cao Bằng, sau đó tới Trùng Khách làm việc với Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc để phối hợp cách mạng giữa hai nước.Tháng 12-1940, Nguyễn Ái Quốc tổ chức các lớp huấn luyện cho các cán bộ từ trong nước tới và tiếp xúc với Hoaøng Văn Thụ, đại diện của Trung ương Đảng từ Việt Nam sang ở tại Tĩnh Tây. Ngày 28-1-1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc vượt qua cột mốc số 108 biên giới Việt - Trung trở về Tổ quốc sau 30 năm hoạt động ở nước ngoài. Ngày 8-2-1941, Người về ở tại Pác Bó (Cao Bằng) và bắt tay vào việc chuẩn bị triệu tập Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ VIII.


14-2-1941 :Thành lập đội du kích Bắc Sơn.

Thực hiện chủ trương của Hội nghị Trung ương lần thứ VII (11-1940) về việc duy trì và bồi dưỡng lực lượng vũ trang của cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn, làm vốn quân sự đầu tiên cho cách mạng, ngày 14-2-1941, Đội du kích Bắc Sơn chính thức được thành lập trong một buổi lễ tổ chức tại khu rừng Khuổi Nọi (thuộc xã Vũ Lễ, châu Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn).

Thực hiện chủ trương của Hội nghị Trung ương lần thứ VII (11-1940) về việc duy trì và bồi dưỡng lực lượng vũ trang của cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn, làm vốn quân sự đầu tiên cho cách mạng, ngày 14-2-1941, Đội du kích Bắc Sơn chính thức được thành lập trong một buổi lễ tổ chức tại khu rừng Khuổi Nọi (thuộc xã Vũ Lễ, châu Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn). Hoaøng Văn Thụ đã thay mặt Trung ương Đảng công nhận, trao nhiệm vụ và lá cờ đỏ sao vàng cho đơn vị vũ trang đầu tiên của Đảng gồm 32 chiến sĩ, do Chu Văn Tấn và Lương Văn Tri chỉ huy (từ tháng 6-1941 do Phùng Chí Kiên chỉ huy). Sau Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ VIII (5-1941), đơn vị đổi tên là Trung đội Cứu quốc quân thứ nhất. Ngay sau khi thành lập, Trung đội vừa tổ chức huấn luyện, vừa tham gia những hoạt động quân sự, nhằm bảo vệ căn cứ địa cách mạng và không ngừng phát triển lực lượng.

Trung đội Cứu quốc quân thứ hai được thành lập ngày 15-9-1941, Trung đội Cứu quốc quân thứ ba thành lập ngày 25-2-1944. Sau Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ, đến ngày 15-5-1945, các Trung đội cứu quốc quân sáp nhập với Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân thành Việt Nam giải phóng quân.


15-05-1941: THÀNH LẬP ĐỘI THIẾU NIÊN TIỀN PHONG HỒ CHÍ MINH
  • 15/05/1941

  • THÀNH LẬP ĐỘI THIẾU NIÊN TIỀN PHONG HỒ CHÍ MINH

Từ năm 1925, sau khi sáng lập ra Việt Nam Thanh Niên cách mạng đồng chí hội - tiền thân của Đảng, Bác Hồ đã chỉ thị về nước, lựa chọn 1 số thanh niên ưu tú đưa ra nước ngoài đào tạo. Trong số 8 thanh thiếu niên lúc đó được Bác Hồ đích thân dạy dỗ có Lý Tự Trọng. Sau này anh đã hi sinh vì sự nghiệp cách mạng. Khi sáng lập ra tổ chức Đoàn, Đảng đã giao trách nhiệm lịch sử cho Đoàn trực tiếp phụ trách chỉ đạo các tổ chức thiếu niên, nhi đồng.

Nghị quyết đại hội Đảng Cộng Sản Đông Dương lần I (1/1935) ghi rõ: “Đoàn phụ trách tổ chức Hồng nhi đoàn, chỗ nào có chi bộ, Đoàn phải lập ra Hồng nhi đoàn, những đoàn viên dưới 16 tuổi nhất luận phải đưa qua Hồng nhi đoàn”.

Ngày 8/2/1941 sau nhiều năm bôn ba ở nước ngoài, Bác Hồ đã về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Tháng 5/1941 hội nghị Ban chấp hành Trung Ương Đảng lần thứ 8 đã họp và ra nghị quyết quan trọng đến vận mệnh nước nhà. Hội nghị đã chủ trương thành lập Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh gọi tắt là Việt Minh bao gồm nhiều tổ chức yêu nước.

Ngày 15/5/1942, theo chỉ đạo của Đảng, tổ chức Đội Thiếu Niên Tiền Phong và Đội Nhi Đồng cứu quốc đã được thành lập tại vùng Pắc Pó (Cao Bằng) do Đoàn Thanh Niên Cứu Quốc ( nay là Đoàn Thanh Niên Cộng Sản Hồ Chí Minh) trực tiếp phụ trách. Ngày 15/5/1941 đã được ban chấp hành Trung Ương Đảng đồng ý lấy ngày chính thức thành lập đội.

Từ ngày thành lập đến nay, đội đã qua nhiều lần đổi tên. Sự kiện đổi tên có ý nghĩa nhất là sau khi Chủ Tịch Hồ Chí Minh qua đời, thiếu nhi cả nước, ban chấp hành Trung Ương Đảng trong phiên họp ngày 30/1/1970 đã cho phép đoàn thanh niên, đội thiếu niên được mang tên Bác.


10 đến 19-5-1941 :Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ VIII. Mặt trận Việt Minh đư

Hội nghị tiến hành từ ngày 10 đến 19-5-1941 tại khu rừng Khuổi Nậm, Pác Bó (Hà Quảng, Cao Bằng) do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chủ trì, với sự tham gia của Trường Chinh, Hoaøng Văn Thụ, Hoaøng Quốc Việt, Phùng Chí Kiên, đại biểu xứ ủy Bắc Kỳ và Trung Kỳ.

Hội nghị tiến hành từ ngày 10 đến 19-5-1941 tại khu rừng Khuổi Nậm, Pác Bó (Hà Quảng, Cao Bằng) do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chủ trì, với sự tham gia của Trường Chinh, Hoaøng Văn Thụ, Hoaøng Quốc Việt, Phùng Chí Kiên, đại biểu xứ ủy Bắc Kỳ và Trung Kỳ.

Phân tích tình hình thế giới, Nghị quyết của hội nghị nhận định: “Nếu cuộc chiến tranh đế quốc lần trước đã đẻ ra Liên Xô, một nước xã hội chủ nghĩa, thì cuộc chiến tranh đế quốc lần này, sẽ đẻ ra nhiều nước xã hội chủ nghĩa, sẽ do đó mà cách mạng nhiều nước thành công”.

Về tình hình Đông Dương, Hội nghị xác định rõ: “Khẩu hiệu của Đảng ta là trước hết phải làm sao giải phóng cho được các dân tộc Đông Dương khỏi ách của giặc Pháp – Nhật”.

Về mối quan hệ giữa các dân tộc Đông Dương, Hội nghị khẳng định sự tôn trọng việc lựa chọn hình thức nhà nước của mỗi dân tộc, sống trên bán đảo Đông Dương sau khi cách mạng thành công, nhưng trước mắt muốn đánh đuổi Pháp – Nhật “phải có một lực lượng thống nhất của tất thảy các dân tộc Đông Dương họp lại”. Hội nghị tán thành nghị quyết của hai hội nghị Trung ương trước đó về việc chuyển hướng chỉ đạo chiến lược và sách lược nhằm nêu cao nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu.

Theo đề nghị của Nguyễn Ái Quốc, Ngày 19-5-1941, Hội nghị quyết định thành lập Việt Nam độc lập đồng minh (gọi tắt là Việt Minh) thay cho Mặt trận Dân tộc thống nhất phản đế Đông Dương và đặt ra nhiệm vụ giúp đỡ các dân tộc Lào và Campuchia thành lập mặt trận của mình. Các tổ chức của Việt Minh sẽ là các Hội Cứu quốc. Hội nghị quyết định tiếp tục chủ trương tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất để tranh thủ mở rộng mặt trận dân tộc.

Về phương pháp cách mạng, Hội nghị nhận định “cuộc cách mạng Đông Dương sẽ kết liễu bằng một cuộc khởi nghĩa vũ trang” và “với lực lượng sẵn có, ta có thể lãnh đạo một cuộc khởi nghĩa từng phần trong từng địa phương giành thắng lợi mà mở đường cho một cuộc tổng khởi nghĩa to lớn” và quyết định sau khi đánh đuổi đế quốc Pháp – Nhật “sẽ thành lập một chính phủ nhân dân của Việt Nam dân chủ cộng hòa lấy lá cờ đỏ ngôi sao vàng 5 cánh làm cờ toàn quốc”, nhấn mạnh nhiệm vụ tăng cường đội ngũ của Đảng là lấy “vận dộng công nhân làm công việc đầu tiên trong việc tổ chức quần chúng của Đảng”…

Hội nghị đã bầu ra Ban chấp hành Trung Đảng và cử Trường Chinh làm Tổng bí thư. Ban Thường vụ có thêm Hòang Văn Thụ và Hoàng Quốc Việt.

Hội nghị Trung ương lần thứ VIII là một sự kiện quan trọng, cùng với sự ra đời của Mặt trận Việt Minh, đã hoaøn chỉnh sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược và sách lược của Đảng, trực tiếp góp phần quyết định thắng lợi của cách mạng tháng Tám 1945.


19-5-1941 thành lập mặt trận việt minh
MẶT TRẬN VIỆT MINH - BIỂU TƯỢNG SÁNG NGỜI CỦA KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC

Ngày 18/5/2006. Cập nhật lúc 18h 8

(ĐCSVN)- Tháng 5 năm 1941, trước những thay đổi mạnh mẽ của tình hình trong nước và những biến động to lớn trên thế giới, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã triệu tập và chủ trì Hội nghị Trung ương lần thứ VIII của Đảng ở Khuổi Nậm, Pác Bó, Cao Bằng quyết định sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược của Đảng - khẳng định giải phóng dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng Việt Nam. Để thực hiện mục tiêu đó, Hội nghị đã quyết định thành lập Việt Nam độc lập đồng minh (gọi tắt là Việt Minh) nhằm tập hợp và đoàn kết rộng rãi các giai cấp, các dân tộc, tôn giáo, các giới…tham gia Mặt trận.

Có thể nói, quyết định thành lập Mặt trận Việt Minh là một chủ trương hết sức sáng suốt của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và Ban Thường vụ Trung ương Đảng. Nhận định về tình hình cách mạng nước ta lúc đó, Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ VIII của Đảng đã khẳng định: “Trong lúc này, quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, của dân tộc. Trong lúc này, nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi lại được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, của giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”. Để thực hiện được nhiệm vụ trên, đòi hỏi Đảng ta phải tập hợp, đoàn kết được mọi lực lượng trong xã hội, không phân biệt tôn giáo, đảng phái, dân tộc vào một mặt trận dân tộc thống nhất. Ngày 19-5-1941, Mặt trân Việt Minh đã ra đời. Điều lệ của Mặt trận Việt Minh ghi rõ: liên hiệp tất cả các tầng lớp nhân dân, các đảng phái cách mạng, các đoàn thể dân chúng yêu nước. Kết nạp từng đoàn thể không cứ đảng phái, đoàn thể nào của người Việt Nam hay của các dân tộc thiểu số sống trong nước Việt Nam, không phân biệt giai cấp, tôn giáo và xu hướng chính trị, để cùng nhau đánh đuổi Nhật - Pháp, làm cho nước Việt Nam hoàn toàn độc lập.

Với Cương lĩnh chính trị đúng đắn của mình, chỉ sau một thời gian ngắn, Mặt trận Việt Minh đã phát triển nhanh chóng, từ miền núi đến miền xuôi, từ nông thôn đến thành thị, thu hút đông đảo các giai tầng xã hội tham gia Mặt trận và đã góp phần quyết định vào thắng lợi của cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945.

Mặt trận Việt Minh đã trở thành biểu tượng sáng ngời của khối đại đoàn kết toàn dân, của tư tưởng Hồ Chí Minh về Mặt trận dân tộc thống nhất và để lại cho Đảng ta những bài học quý báu, được Đảng ta vận dụng một cách linh hoạt, hiệu quả trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Chúng ta có thể thấy rõ điều này qua hoạt động của Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam (1946), Mặt trận Liên - Việt (1951), Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (1955), Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (1960) và Liên minh các Lực lượng Dân tộc Dân chủ và Hoà bình miền Nam Việt Nam (1969)…

Trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước hôm nay, vấn đề đại đoàn kết toàn dân vẫn là một vấn đề mang tính thời sự và có ý nghĩa vô cùng to lớn. Báo cáo của BCHTƯ Đảng khoá IX tại Đại hội X của Đảng đã khẳng định: Đại đoàn kết các dân tộc cần lấy mục tiêu giữ vững độc lập, thống nhất của tổ quốc, dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh làm điểm tương đồng để gắn bó đồng bào các dân tộc, các tôn giáo, các tầng lớp nhân dân ở trong nước và đồng bào ta định cư ở nước ngoài; xoá bỏ mọi mặc cảm, định kiến, phân biệt đối xử về quá khứ, thành phần giai cấp; tôn trọng những ý kiến khác nhau không trái với lợi ích dân tộc; đề cao truyền thống nhân nghĩa, khoan dung, xây dựng tinh thần cởi mở, tin cậy lẫn nhau, giữ gìn sự ổn định chính trị và đồng thuận xã hội vì tương lai tươi sáng của dân tộc.

Với chính sách đúng đắn đó, chúng ta tin tưởng rằng, khối đại đoàn kết toàn dân, mà nòng cốt là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam sẽ ngày càng được tăng cường và củng cố nhằm tập hợp, động viên mọi tầng lớp nhân dân Việt Nam, phát huy mọi nguồn lực để chiến thắng đói nghèo và lạc hậu, phấn đấu thực hiện thắng lợi những nhiệm vụ kinh tế - xã hội 5 năm 2006-2010, để sớm đưa nước ta thoát khỏi tình trạng kém phát triển trước những khó khăn và thách thức trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.