Sự kiện Thời kì Pháp thuộc

22-9-1940 :Pháp ký hiệp ước thỏa thuận cho phát xít Nhật sử dụng lãnh thổ Bắc Kỳ vào những mục đích quân sự. Nhật đưa quân vào Đông Dương.

22-9-1940 :Pháp ký hiệp ước thỏa thuận cho phát xít Nhật sử dụng lãnh thổ Bắc Kỳ vào những mục đích quân sự. Nhật đưa quân vào Đông Dương.

Chiều ngày 30-8-1940, tướng Nishihara đã gặp và yêu cầu Toàn quyền Đông Dương Đờcu thực hiện điều khoaûng cuối cùng của bản hiệp ước vừa ký ở Tôkiô về việc ký tiếp một thỏa ước về quân sự, đồng thời đưa ra một dự thảo những yêu sách của phía Nhật buộc Pháp phải cho Nhật sử dụng một số sân bay, được đóng quân và hành quân trên lãnh thổ Bắc Kỳ, và hạn định phía Pháp phải trả lời trước tối 2-9.

Chiều ngày 30-8-1940, tướng Nishihara đã gặp và yêu cầu Toàn quyền Đông Dương Đờcu thực hiện điều khoaûng cuối cùng của bản hiệp ước vừa ký ở Tôkiô về việc ký tiếp một thỏa ước về quân sự, đồng thời đưa ra một dự thảo những yêu sách của phía Nhật buộc Pháp phải cho Nhật sử dụng một số sân bay, được đóng quân và hành quân trên lãnh thổ Bắc Kỳ, và hạn định phía Pháp phải trả lời trước tối 2-9. Đờcu muốn tranh thủ tìm kiếm khả năng can thiệp của Mỹ nên kéo dài cuộc thương lượng. Ngày 6-9, Nhật đưa một tiểu đoàn từ Quảng Tây (Trung Quốc), vượt biên giới vào Đông Dương để cảnh cáo Pháp. Ngày 19-9-1940, Bộ trưởng Ngoại giao Nhật Matsuoka thông báo cho đại sứ Pháp tại Nhật biết rằng, dù hiệp ước có được ký kết hay không, thì 22-9 quân Nhật vẫn tiến vào Đông Dương. Đồng thời, tướng Nishihara cũng tuyên bố sẽ rời khỏi Hà Nội ngày 21-9, cắt đứt thương lượng. Trước sức ép của Nhật, ngày 22-9, Tổng tư lệnh quân đội Pháp ở Đông Dương, tướng Máctanh (Martin) phải ký vào một văn bản do tướng Nishihara đã sọan sẵn, trong đó có điều khoaûn chính như sau:

1- Quân Nhật được sử dụng 3 sân bay lớn ở Bắc Kỳ (Gia Lâm, Hải Phòng, phủ Lạng Thương).

2- Bộ tư lệnh quân đội Nhật có quyền đóng 6.000 quân ở khu vực phía bắc sông Hồng.

3- Quân đội Nhật có quyền hành quân qua Bắc Kỳ để đánh quân Trung Quốc ở Vân Nam, nhưng tổng số quân Nhật có mặt ở Đông Dương không lúc nào được vượt quá 25.000 người.

4- Sư đoàn quân Nhật đóng ở Quảng Tây có quyền mượn đường qua Bắc Kỳ để ra biển.

Như vậy, về thực chất hiệp ước trên được coi như một văn kiện đầu hàng của thực dân Pháp đối với Nhật ở Đông Dương. Cũng trong chiều 22-9, quân Nhật từ Quảng Tây, bắt đầu vượt qua biên giới, bằng nhiều ngả bao vây và tấn công Pháp ở Lạng Sơn, những ngày sau đó quân Nhật lần lượt đánh chiếm Hải Phòng, Hà Nội, Bắc Ninh, Phú Thọ…thực dân Pháp hòan toàn không kháng cự nổi.

Từ đây, như Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ VII (11-1940) đánh giá: “Xứ Bắc Kỳ đã hoaøn toàn biến thành căn cứ quân sự của Nhật”.


27-9-1940 :Khởi nghĩa Bắc Sơn.

Khởi nghĩa Bắc Sơn báo hiệu thời kỳ đấu tranh vũ trang của cách mạng Việt Nam. Nhận thấy sự tan rã của chính quyền thực dân sau khi phát xít Nhật nhảy vào Đông Dương, quân Pháp thất bại và đầu hàng, Đảng bộ Bắc Sơn đã phát động quần chúng nổi dậy cướp chính quyền, tấn công các đồn bốt và các đơn vị lính Pháp đang rút chạy, cướp vũ khí, xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng.

Khởi nghĩa Bắc Sơn báo hiệu thời kỳ đấu tranh vũ trang của cách mạng Việt Nam.

Nhận thấy sự tan rã của chính quyền thực dân sau khi phát xít Nhật nhảy vào Đông Dương, quân Pháp thất bại và đầu hàng, Đảng bộ Bắc Sơn đã phát động quần chúng nổi dậy cướp chính quyền, tấn công các đồn bốt và các đơn vị lính Pháp đang rút chạy, cướp vũ khí, xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng.

20 giờ ngày 27-9-1940, hơn 600 quân khởi nghĩa, gồm đủ các dân tộc Tày, Dao, Nùng, Kinh đã tấn công đồn Mỏ Nhài (châu lỵ Bắc Sơn). Sau khi chiếm châu lỵ, Ban chỉ huy cuộc khởi nghĩa tuyên bố xóa bỏ chính quyền cũ. Các ngày 28, 29-9-1940, quân khởi nghĩa tiếp tục tấn công vào tàn quân Pháp ở đèo Canh Tiêm, Sập Dì. Trước tình hình đó, Pháp, Nhật thỏa hiệp với nhau để tập trung đàn áp cuộc khởi nghĩa. Thực dân Pháp đưa quân lên chiếm lại các đồn và đàn áp dữ dội. Ngay sau khi được tin cuộc khởi nghĩa nghĩa bùng nổ, Xứ Bắc Kỳ đã cử Trần Đăng Ninh lên lãnh đạo phong trào và hướng cuộc khởi nghĩa vào mục tiêu xây dựng lực lượng để chiến đấu lâu dài. Giữa tháng 10-1940, Ban chỉ huy khu căn cứ Bắc Sơn được thành lập và ngày 13-10-1940, cuộc họp tại khu rừng Tân Hương đã quyết định thành lập đơn vị du kích Bắc Sơn đầu tiên. Ngày 28-10-1940, quần chúng cách mạng đang tổ chức mít tinh ở Vũ Lăng, chuẩn bị đánh chiếm lại đồn Mỏ Nhài thì bị quân Pháp tấn công.

Cuộc khởi khởi nghĩa Bắc Sơn thất bại nhưng đã để lại những bài học quý báu về khởi nghĩa vũ trang, xây dựng chính quyền, hơn nữa nó đặt được nền móng cho việc xây dựng căn cứ địa cách mạng với những lực lượng vũ trang đầu tiên mà sau này phát triển thành Việt Nam Cứu quốc quân.


23-11-1940 :Khởi nghĩa Nam Kỳ.

Ách phát xít Nhật – Pháp, cùng với cuộc xung đột Pháp – Xiêm đã tạo nên một không khí sôi sục trong quần chúng nhân dân và binh lính sắp bị đẩy ra mặt trận phía tây ở các tỉnh Nam Kỳ. Trước tình hình đó, Xứ ủy Nam Kỳ chủ trương phát động khởi nghĩa, phân tích tình hình một cách tỉnh táo và toàn diện, Hội nghị Trung ương Đảng tháng 11-1940 đã quyết định hoaõn cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ.

Ách phát xít Nhật – Pháp, cùng với cuộc xung đột Pháp – Xiêm đã tạo nên một không khí sôi sục trong quần chúng nhân dân và binh lính sắp bị đẩy ra mặt trận phía tây ở các tỉnh Nam Kỳ. Trước tình hình đó, Xứ ủy Nam Kỳ chủ trương phát động khởi nghĩa, phân tích tình hình một cách tỉnh táo và toàn diện, Hội nghị Trung ương Đảng tháng 11-1940 đã quyết định hoaõn cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ. Ngày 22-11, phái viên của Trung ương là Phan Đăng Lưu mang theo lệnh hoaõn khởi nghĩa về tới Sài Gòn, nhưng lệnh phát động nổi dậy đã được ban bố. Ngày 23-11-1940, quần chúng nổi dậy ở khắp các tỉnh miền Nam, đặc biệt là ở Mỹ Tho. Mặc dầu khí thế quần chúng rất cao, tinh thần các đảng viên rất ngoan cường, nhưng do những điều kiện chủ quan và khách quan chưa chín mùi, kẻ thù đã nắm được chủ trương và thời gian khởi nghĩa, nên các cuộc khởi nghĩa nổi dậy của quần chúng đều bị đàn áp đẫm máu và thất bại.

Mặc dầu thất bại, khởi nghĩa Nam Kỳ đã để lại những bài học quý báu về vấn đề chỉ đạo khởi nghĩa vũ trang, chuẩn bị cho Đảng những kinh nghiệm để thực hiện sứ mạng của Cách mạng tháng Tám 1945.